Image from GPKN 45 nam KMTD

Đồng Hành 

(trích đăng từ Giai Phẩm Kỷ Niệm 45 năm THKMTĐ)

GS Nguyễn Nhã

Hồi tôi quyết tâm vào nghề dạy học, trước hết thi vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, tôi đã gặp bạn Bùi Văn Nhự cùng lớp Sư Phạm cấp tốc khóa 16 và khi đi thực tập tại Trường Thực Nghiệm Sư Phạm Sài Gòn, tôi đã gặp em Huỳnh Minh Châu (khóa 1, KMTĐ) khi đó là Lớp trưởng lớp Nhì.

Năm 1962 khi vào Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, bạn Bùi Văn Nhự cùng thi và sau đó học cùng lớp với bạn Trần Ngọc Ban. Sau cuộc đảo chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, các sinh viên hoạt động khác thường mà có người nói là "ông sinh viên", bạn Trần Ngọc Ban đã trở thành Trưởng Ban Đại diện Sinh viên Trường ĐHSP Sài Gòn (1964-1965), còn tôi vốn là Lớp trưởng cũng trở thành Chủ tịch nhóm Sử Địa ĐHSP Sài Gòn, bạn Nguyễn Ngọc Trác cùng lớp làm Tổng thư ký. Cũng vì thành tích hoạt động sinh viên ấy mà bạn Trần Ngọc Ban đã được GSTS Dương Thiệu Tống, vị Hiệu Trưởng đầu tiên, chọn về trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức để lo hoạt động hiệu đoàn.

Tôi ra trường ĐHSP Sàigòn năm 1965 về dạy tại trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long. Chỉ gần một năm sau, năm 1966, tôi phụ trách Chủ nhiệm kiêm Chủ Bút Tập San Sử Địa mà bạn Nguyễn Nhật Tấn hồi ấy còn là sinh viên, phụ trách Trưởng ban Báo Chí của Nhóm Sử Đia, được tôi mời làm Thư Ký Tòa Soạn, bạn Nguyễn Ngọc Trác cùng trong Ban Trị Sự. Tập San Sử Địa sau này được Trường Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) chọn số hóa đầu tiên và được GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hôi Khoa học Lịch sử Việt Nam giới thiệu, đánh giá Tập San này đã toát lên tinh thần dân tộc và mỗi bài báo là một công trình nghiên cứu có giá trị.

Chính với những hoạt động đó, tôi được bạn Trần Ngọc Ban giới thiệu với GSTS Dương Thiệu Tống về dạy ở trường THKMTĐ. Tôi còn nhớ buổi gặp gỡ phỏng vấn của GSTS Dương Thiệu Tống. GS Tống cho biết trường KMTĐ có những chủ trương giáo dục như thế và đang gặp nhiều khó khăn và ai chấp nhận thì xin mời về. Tôi rất tâm đắc và quyết định rời trường Tống Phước Hiệp ngay kỳ nghỉ hè đầu tiên ở Trường này năm 1966.

Thầy Hồng, Thầy Nhã Thầy Nhã
Cô Thanh, Thầy Hồng, Thầy Nhã, Thầy Hoài Thầy Nhã 1966

Hồi tôi về Trường, dĩ nhiên gặp bạn Trần Ngọc Ban và trình diện thầy Hiệu Trưởng Dương Thiệu Tống. Cùng về trường một năm có các bạn Dương Văn Hóa, Huỳnh Văn Nhì, Lâm Vĩnh Thế, Tống Văn Nhàn, Bùi Quang Hân, Nguyễn Thái An, Dương Hồng Quân, v.v...

Hồi chúng tôi về Trường năm 1966, bắt đầu nhập học Khóa 3. Năm đầu tiên đã có Khóa 1 (vào lớp đệ lục) và Khóa 2 (vào lớp đệ thất). Tôi được dự buổi chào cờ đầu tiên rất ấn tượng với nhóm đánh trống (cà rùng) Lê Đình Huy và đồng phục nữ "jupe", áo "blouse" màu xanh.

Hồi ấy các giáo sự còn rất ít và hầu hết mới đi du học về như thầy Phạm Văn Quảng (hướng dẫn Khải đạo), cô Dương Thị Kim Sơn (Kinh tế Gia đình), cô Huỳnh Thị Bạch Tuyết (Kinh tế Gia đình), thầy Phan Thanh Hoài (Doanh thương), cô Nguyễn Kim Hồng (Doanh thương), thầy Trần Cẩm Hồng (Công kỹ nghệ), thầy Nguyễn Ứng Long (Thư viện, Anh văn), thầy Nguyễn Huy Du (Tổng Giám thị), thầy Nguyễn Hữu Phước (Sử), cô Nguyễn Thị Tuyết Nga (Anh), thầy Đỗ Quang Giao (Canh Nông). Trong khi những thầy cô tuy chưa đi du học song rất nhiều khả năng và uy tín như thầy cô Nguyễn Thị Nguyệt (Pháp văn), thầy Phạm Văn Đang (Việt văn), thầy Phan Hồng Lạc (Việt văn), thầy Nguyễn Văn Tâm (Vạn vật), cô Hoàng Thị Diệm Phương hay Hoàng Hương Trang (Hội Họa), thầy Nguyễn Kim Đài hay Lan Đài (Âm nhạc), thầy Trịnh Tiến Đạt (Lý Hóa) ... 

Thầy Nhã trong trại hè Vũng Tàu 1966
Thầy Nhã hướng dẫn sinh hoạt tập thể trong trại hè Vũng Tàu 1966

Những Thầy Cô đầu tiên ấy, sau năm 1967-1968, dần dần rời trường về ĐHSP Sài Gòn dạy học hoặc có nhiệm vụ mới như thầy Nguyễn Ứng Long làm Giám đốc Thư viện Quốc gia. Sau đó nhiều thầy cô khác lại tiếp tục về khi trường phát triển lên Cấp 8 đến Cấp 12.

Năm 1966, Giáo sư Hiệu trưởng Dương Thiệu Tống do bận làm phụ tá Tổng trưởng Giáo dục, nên cô Nguyễn Thị Nguyệt lên thay chức Hiệu trưởng. Dù rất ngắn thời gian điều khiển, song thầy Tống đã có công lớn xây dựng nền tảng vững chắc cho Trường và Thầy vẫn tiếp tục theo dõi kể cả tham dự các buổi Hội Thảo Giáo dục ở Trường, nhất là khi trường ĐHSP mở khóa đầu tiên Cao học Giáo dục thì vừa ủng hộ ưu tiên các giáo sư Trường tham gia học vừa tích cực nhần làm giáo sư hướng dẫn trong đó có tôi. Hồi tôi quá bận lo Chủ nhiệm Tập San và lo Cao học Lịch sử ở Đại Học Văn Khoa và tính vốn lẩm cẩm, nhất định không trình luận án, mặc dù đã làm xong trong đó đã nhờ các em Kiểu Mẫu đánh máy, vì tôi cho rằng khi có bằng cấp chỉ lo đi "chạy sô", không làm nên trò trống gì cả. Đến nỗi có lần thầy Tống bảo tôi rằng: "Ông Nhã không trình Luận án thì lớp Cao học sẽ giảm đi phần giá trị". Chẳng là vì thầy Tống thấy luận án của tôi làm rất công phu về Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình thời Pháp thuộc mà có những tư liệu rất quý từ những bảng câu hỏi, phỏng vấn các cụ Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân, Tú tài Nho học còn sống. Tôi sưu tầm được cả bài thi được chấm cụ thể ra sao ...

Trong những năm 1967-1968, trường Kiểu Mẫu tích cực tô chức nhiều buổi hội thảo thông qua chương trình Chuyên Ban (Đệ Nhị cấp) và sau đó phép thi hồi đầu là Hoàn Tất Mỹ Mãn lớp 11 (sau đổi Tú Tài I Tổng Hợp) và Thành Chung Trung Học (Tú Tài II Tổng Hợp). Tôi đã tích cực tham gia chấp bút chương trình bộ môn Kiến Thức Xã Hội và chấp bút Phép thi Tốt nghiệp. Trong những buổi hội thảo trên và các buổi hội thảo sau này nữa, có các tiến sĩ Việt Nam cũng như nước ngoài tham dự, tôi hay phát biểu nên các bạn cứ nhạo tôi là Tiến sĩ Nhã. Kể cũng vui, song đó có thể đã ảnh hưởng, làm tôi thay đổi ý lẩm cẩm, "cần thực học chứ không chạy theo bằng cấp", nhất là khi tôi tham gia sáng lập và quản lý một trường đại học, cần đến bằng tiến sĩ. Và để chứng tỏ tôi không thay đổi ý kiến, nên đợi đến khi tôi về hưu, tôi mới trình luận án tiến sĩ: "Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa."

Do tính cách bộc trực, nóng nảy đến mức vụng về mà cô Nguyễn Thị Nguyệt quản trị, Trường khó vượt qua những khó khăn, nhiều giáo sư đầu tiên đã bắt đầu rời Trường, những học sinh ngày càng lớn, tâm lý phức tạp, sự phát triển Trường có vẻ sa sút thấy rõ. Sự phản ứng của phụ huynh học sinh trở nên quyết liệt, khiến cô Hiệu trưởng phải thôi chức nhường cho GS Phạm Văn Quảng.

Chính trong thời gian tâm lý học sinh bắt đầu phức tạp, từ năm 1968 khi hoàn tất chương trình Đệ Nhất cấp (cấp 2) và Đệ Nhị cấp (cấp 3), tôi cùng GS Phạm Văn Quảng đề xuất, hoàn tất và tích cực triển khai môn Hướng dẫn Đức dục, thay thế môn Công dân Giáo dục, một phần đem vào nội dung môn Kiến thức Xã hội. Đây là một sự đóng góp tôi cho là quan trọng vào sự nghiệp giáo dục của tôi. Chúng tôi chia nhau phụ trách mỗi nhóm giáo sư một cấp lớp: thầy Quảng, cô Sơn Cấp 6, cô Tuyết, cô Ngân hay cô Thanh Cấp 7, tôi Cấp 8 & 9. Mặc dù tôi chuyên về Lịch sử, Trưởng ban Kiến thức Xã hội, song tôi đã dần không dạy môn này nữa, chỉ nhận dạy lớp 12 song lại là phần môn Hướng dẫn Đức dục (phần Hướng dẫn Thanh Thiếu Niên) tức dạy hoàn toàn môn Hướng dẫn Đạo đức. Bởi dạy tức là học!

Để thể hiện tính đại trà giáo dục học sinh qua hoạt động học đường, tôi đã đề nghị cuối lớp 9 tổ chức trại Hướng dẫn Đức dục có tính bắt buộc và sau đó cập chứng chỉ "Huynh Trưởng". Cuối cấp 12 tổ chức trại Về Nguồn. Và một tuần sau ngày thi tốt nghiệp, bắt đầu từ khóa 2, tập trung đến nhà tôi chuẩn bị Kỷ Yếu cấp học trước khi ra Trường (thực hiện được 4 khóa mà Kỷ Yếu khóa 4 do nhóm Ngọc Giao phụ trách. Rất đẹp và đầy sáng tạo). 

Thầy Nhã tại trại Về Nguồn 1972
Thầy Nhã cùng các thầy cô khác ở trại Về Nguồn khóa 2 1972

Như với sự phát triển giáo dục học hồi đó, sinh hoạt học đường không còn gọi là "Ngoại Khóa" (extra-curriculum) mà là "Đồng" hay "Trong Khóa Học" (co-curriculum). Nhân khí thế thành công của trại Hướng dẫn Đức dục đầu tiên tổ chức ngày 24 đến 29 tháng 9 năm 1970 tại Vũng Tàu, khi về trường họp Ban Giám Đốc, tôi có đề nghị năm nay tổ chức ngày Truyền Thống đầu tiên vào ngày 11 tháng 10, nếu ngày trùng vào ngày chủ nhật hoặc thứ năm (ngày nghỉ của trường thì sẽ dời vào một ngày kế tiếp. Đa số ý kiến cho rằng các thầy trò đều quá mệt sau khi đi trại về. Tôi đưa ý kiến, tôi tự đảm nhận và cam kết làm tốt, chỉ cần một thầy là tôi đứng đằng sau chỉ đạo còn sẽ để chính học sinh đứng ra tổ chức với tinh thần Hàng đội Tự trị mà Trường đang chủ trương. Hội nghị đồng ý. Từ đó tôi lên kế hoach thành lập Ban Tổ Chức mà Trưởng Ban Tổ Chức là em Vũ Ngọc Anh (12 K2). Thầy Quảng Hiệu trưởng hình như còn cẩn trọng nên chưa dám mời ai, chỉ mời thầy Dương Thiệu Tống nguyên Hiệu trưởng đầu tiên tham dự Ngày Truyền Thống đầu tiên. Vả lại việc tổ chức cũng còn quá gấp gáp, chỉ hơn một tuần lễ.

Thật không ngờ, khi buổi lễ diễn ra, thầy Tống ngạc nhiên thấy qui mô lớn quá mà hay quá. Tại Giảng đường có những tiết mục chưa từng có. Em Lê Đình Huy, em Lê Phước Lạc chỉ huy các tiết mục từng Cấp lớp. Cấp 6 và Cấp 7 hàng trăm học sinh lên hát. Có những tiết mục dân ca do các em học sinh Cấp 8 vốn được học và đã thuyết trình về âm nhạc truyền thống mà đã từng có những nhóm thuyết trình đã soạn và tự in quay ronéo tới 27 trang bài thuyết trình. Sau này tôi có áp dụng cho các sinh viên đại học mà chưa bao giờ các em sinh viên soạn bài thuyết trình công phu được như thế! Thầy Tống đi xem triển lãm ở phòng Công Kỹ Nghệ, phòng Kinh Tế Gia Đình, phòng Doanh Thương mà các học sinh thi nhau trổ tài. Tại phòng Công Kỹ Nghệ, thầy Tống nhận đuợc hộp danh thiếp các học sinh mới in ... Đến chiều diễn ra các hoạt động thể thao với các trận bóng đá ngay tại sân bóng của Trường. Thật là một trưởng thành vượt bậc, nhát là khả năng tổ chức điều khiển của học sinh đàn anh huynh trưởng! Tôi nghĩ chưa có một trường học nào ở Việt Nam dám để học sinh làm như thế và tổ chức hay như thế. Bản thân việc học sinh tự đứng ra tổ chức ngày truyền thống đã là thành công, khẳng định phương thức giáo dục hay như thế nào. Sau 1975, có nhiều học sinh nói với tôi, bản thân các em ấy không phải là học sinh nổi bật của trường, song cũng đã quen hoạt động từ nhóm đến từng cấp, và toàn trường, nên về các nơi, thấy người ta hoạt động ngứa mắt quá, nhảy ra làm, được người ta khen lắm. Đấy cũng là bằng chứng sự thành công giáo dục đại trà của nhà trường. Riêng tham gia trại có em tổng kết tham dự tới 25 trại kể cả trại công tác, huấn luyện, hướng dẫn đức dục. Về Nguồn, trại giao lưu. Tôi không phải là giáo sư hướng dẫn khải đạo, ấy vậy mà tôi luôn được các em KM tin cậy. Thậm chí có cả phụ huynh một em KM, sau 1975, đã điện thoại với tôi muốn gặp tôi ở Khu du lịch Hồ Kỳ Hòa mà không muốn cho cô con gái biết, nhờ tôi khuyện con gái mình trong vấn đề liên quan đến tình cảm. Tôi đã thành công, và cảm thấy vui rằng tuy trường không còn nữa, ấy vậy mà phụ huynh vẫn đặt tin tưởng ở nơi người thầy cũ. Nguyên sự cam kết của người học trò theo lời khuyên của Thầy cũ cũng đủ là bằng chứng cho sự thành công của một ngôi trường "Kiểu Mẫu", về uy tín của một người thầy. Thật là hạnh phúc cho tôi và cho tất cả chúng ta phải không các bạn và các em?

Từ năm 1968 trường tổ chức hội thảo liên miên để hoàn tất chương trình học Đệ Nhất cấp (cấp 2) và Đệ Nhị cấp (cấp 3) cũng như cách thi tốt nghiệp. Với tính cách Trưởng Ban Nghiên cứu của trường, tôi chấp bút viết đề án thi cử. Tôi đã nghiên cứu và lấy những tinh hoa từ cách thi trắc nghiệm của Mỹ, vấn đáp của Nga và cách tính đậu, xếp hạng của thi Hương xưa của Việt Nam. Ngoài ra việc đánh giá học sinh phỉa quan tâm đến quá trình học tập, nên tôi đã không bỏ qua điểm học tập trong năm của lớp đang học như Cấp 11 (chứng chỉ Hoàn Tất Mỹ Mãn hay Tú Tài 1 Tổng Hợp), Cấp 12 (Thành Chung Trung Học hay Tú Tài II Tổng Hợp).

Và như thế môn loại I chỉ khác loại II ở điều chỉ cần rớt một môn thì phải thi lại môn đó, rớt hai môn phải thi lại tất cả. Các môn loại II chỉ được phép rớt một môn, rớt hai môn thi lại hai môn đó, rớt ba môn phải thi lại tất cả. Môn loại I bao gồm: 60 điểm trắc nghiệm, 40 điểm luận đề, 40 điểm vấn đáp, 40 điểm trung bình năm học. Còn môn loại II thì không có điểm vấn đáp. Cách tính điểm đậu và xếp hạng như đã phổ biến trong Kỷ Yếu của Trường niên khóa 1970-1971 tương tự như thi Hương thời xưa.

Niên khóa 1970-1971 là đỉnh cao gặt hái của mọi nỗ lực không ngừng Vùng Lên của thầy trò Kiểu Mẫu từ năm 1969, khi thầy Quảng lên làm hiệu trưởng.

Tôi còn nhớ hồi các em học sinh như em Lê Thị Ngọc Yến (K1, hiện định cư ở Bỉ) có than phiền với tôi các em rất chán nản thấy Trường sa sút. Chính vì vậy khi thầy Quảng lên làm Hiệu trưởng, tôi đề nghị thành lập nhóm Vùng Lên, trong đó có em Yến, tập hợp những học sinh tích cực, có khả năng nhất làm tờ báo Vùng Lên, em Trương Thị Kim Cương làm Quản nhiệm, Hoàng Ngọc Thọ (K2) làm Chủ bút, Trần Văn Luật (K2): Tổng Thư ký, Lê Nguyên Mỹ Tiên (K3): Thư ký Tòa soạn. Ban Biên tập gồm Phạm Gia Vinh, Lê Thị Việt Thắng, Lê Thị Kim Thu, Lê Phước Lạc, Nguyễn Thị Từ Quy, Nguyễn Bích Nga, Kiran Teckani, Phan Diệu Đẩu, Dương Hồng Thành. Ban Kỹ thuật gồm có: Trần Quang Tuấn, Lê Thành Trọng, Nguyễn Hữu Xương, Lê Phước Lạc, Phạm Gia Đình, Nguyễn Thị Kim Dung, Tuyết Dung, Lê Thị Hạnh, Lê thị Yến. Trình bày: Nguyễn Trung Tạo, Nguyễn Huy Hiển, Võ Anh Tuấn. Đặc san Vùng Lên, tiếng nói của học sinh Trung Học, Ban Báo Chí phụ trách với sự trợ giúp của phòng Hiệu Đoàn, phòng Doanh Thương, phòng Công Kỹ Nghệ. Bìa do phòng Công Kỹ Nghệ khắc bản vẽ ấn loát.

Xem tiếp Đồng Hành - phần 2

Xem Album hình ảnh Đồng Hành cùng với thầy Nguyễn Nhã do Lê Thành Trọng k1 sưu tầm

[Trở lại trang trước]

 

 

 

 

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates