Tôi Ra Xứ Huế

Chuyến bay của Việtnam Airline đáp xuống phi trường Phú Bài vào lúc 10g20, trời mưa nhẹ hạt. Cô cháu dâu đã đón tôi ngay từ cổng ra. Trời u ám, gió thổi lạnh buốt. Khí hậu Saigon mấy hôm nay cũng trở lạnh nên tôi không ngạc nhiên mấy với thời tiết này ở Huế. Tôi khoác vội chiếc áo ấm trên tay. Đây là lần đầu tiên tôi đi máy bay nên thấy khá lạ lẫm. Ngồi trên máy bay nhìn ra ngoài tôi thấy những đám mây trắng bồng bềnh ngoài khung cửa đôi khi giống như tuyết trong những tấm hình chụp ở nước ngoài, đôi khi lại làm tôi nhớ đến câu ca dao học thuở còn nhỏ :" Trên trời mây trắng như bông, Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây ". Tôi thích thú với ý nghĩ mình đang đi trên mây giống như thành ngữ "Đi mây về gió". Vượt qua một quãng đường dài tôi đến xứ Huế với cảm giác đầy háo hức. Tiếng hát của Hoàng Oanh ngày xưa lại hiện về : " Ai ra xứ Huế thì ra , ai về là về núi Ngự, ai về là về Nam Giao." Rồi hình ảnh Huế trong văn thơ của Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng lướt qua trong trí nhớ.

Nhà của cháu tôi nằm canh dòng Hương giang và ở ngoại ô thành phố Huế, từ phi trường về đến nhà phải mất hơn 30 phút. Xe đi ngang qua cầu Tràng Tiền, qua khu chợ Đông Ba đông đúc. Đường phố ở trung tâm thành phố cũng na ná như Saigon với những khách sạn, nhà hàng mà tôi nghĩ mới được xây lên sau này. Đi xa hơn , ra ngoại ô tôi thấy những thôn làng nằm khuất sau những hàng cau cao vút, nép cạnh dòng sông Hương hiền hoà. Phải chăng đây là ngôi làng mà Hàn Mặc Tử đã đưa vào thơ ca. " Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên, Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Lá trúc che ngang mặt chữ điền " Khung cảnh tôi nghĩ chẳng khác gì so với ngày xưa ấy của thi sĩ. Cũng những nếp nhà ẩn hiện sau hàng cau, sau bụi tre. Cũng những bến sông mà tôi thấy người ta ra ngồi giặt giũ quần áo trên bến khi mà ở Saigon hầu như nhà nào cũng có máy giặt. Rồi những chiếc cổng làng cổ kính, rêu phong. Vào mùa này Huế rất nhiều những cành cây khô trụi lá. Có lẽ vì đây đang là cuối đông nên những cây sứ, cây bàng đều đã thay lá. Khác hẳn với nơi tôi ở, dường như bốn mùa lúc nào cây cũng xanh lá. Saigon của tôi chẳng có mùa nào rõ rệt, chỉ có nắng hoặc mưa.
Đến nhà tôi dự đám cưới của một người họ hàng cháu tôi. Cũng giống như Saigon nhưng đám cưới ở đây thường đãi ở sân nhà và do những người trong dòng họ nấu. Dự tiệc xong, nghỉ ngơi một chút tôi cùng cô em đi dạo quanh thôn. Không khí thật trong lành và yên ả. Dòng Hương Giang uốn khúc cạnh thôn. Kiến trúc ở Huế vẫn còn nhiều nét cổ kính. Những ngôi nhà mái ngói ẩn khuất dưới vòm cây mà cây ở đây đa số là cây bàng, cây đại. Mùa này bàng thay lá , những chiếc lá vàng đỏ làm tôi nhớ đến câu hát của TCS mà tôi nghe đã lâu. Điểm đặc biệt của những ngôi nhà ở đây là trước nhà thường xây những bức tường giống như đình, chùa với những chữ Phúc và xen kẽ trong thôn tôi thấy rất nhiều miếu, chùa với những cây cột, mái ngói khắc hình rồng, phụng. Thôn xóm cũng còn xưa cũ lắm, thỉnh thoảng mới có những ngôi biệt thự to mà đa số là do gia đình có người thân ở nước ngoài. Tôi dừng chân ở bến sông ngắm những cô gái, những bà mẹ đang ngồi giặt giũ . Có lẽ , đây là một nếp sống rất lâu đời của người dân quê Việt Nam mà tôi còn thấy. Trời buổi chiều mù mây và ẩm ướt. Tôi nhớ đến lời cô bé mà tôi quen nói: Huế của cháu buồn lắm cô ơi! Mà buồn thiệt trong cái khung cảnh lạnh lẽo và êm đềm này. Mẹ của cô cháu dâu nói với tôi, mùa này còn đỡ. Gặp mùa mưa nhiều khi cả tuần không dứt mưa còn buồn nữa. Nhà nào ở đây hình như đều có một hai chiếc ghe mà tôi nghĩ đó là phương tiện di chuyển trong mùa nước lụt. Hôm nay đã 23 Tết ngày ông táo chầu Trời mà tôi không thấy không khí Tết ở đây. Mùa xuân dường như còn mãi lang thang ở đâu đó chưa kịp về nơi đây.

Sáng hôm sau, tôi được dự lễ đưa dâu của cô cháu. Đám cưới với những phong tục của làng quê nhìn cũng lạ. Nhà chú rể khá gần, chỉ cách mươi căn nhà nên lễ rước dâu cũng đơn giản không có xe hoa mà chỉ là một đám rước với những chiếc lọng của những buổi hội hè đình đám trong làng . Buổi chiều, tôi cùng gia đình lên đại nội. Khung cảnh ngoài thành nội thật hoang sơ, cũ kỹ. Ấn tượng nhất với tôi có lẽ cũng vẫn là những hàng cây khô trơ trụi lá. Những cây mà tôi nghĩ phải gọi là cổ thụ vì những thân gốc xù xì, to lớn của nó. Vì đi tự do nên khi vào kinh thành nhóm chúng tôi không có hướng dẫn viên. Có lẽ là hơi xui vì trong thành nội đang được tu sửa nên còn lam nham, chưa đâu ra đâu. Tôi cố tìm những tên của từng khu vực nhưng đa số đều được viết bằng tiếng Nôm hay tiếng Hán nên tôi không hiểu được. Tôi nghĩ giá như có những tấm biển hướng dẫn nhỉ để người xem có thể hiểu được về một di tích lịch sử. Giống như dinh Bảo Đại ở Đalat dù không có hướng dẫn viên tôi vẫn biết đây là phòng của công chúa, hoàng hậu hay hoàng tử. Tôi dừng chân ở nơi gọi là vườn Thượng Uyển mà thấy buồn buồn. Những chú cá vàng bơi lội tung tăng dưới hồ, vài đoá sen đã tàn úa trên mặt hồ... giống như đánh dấu sự tàn lụi của một triều đại phong kiến đã qua. Tôi chợt nhớ đến vài khu vui chơi mà mình đã đến. Chỉ là một địa điểm du lịch nhưng khung cảnh được chăm chút từng chút. Cây cối hoa lá xanh tươi muôn màu muôn vẻ chứ không hoang phế như nơi đây. Khi đi ngang qua một dãy cung dài , anh rể tôi bảo đây là lãnh cung , nơi giam giữ những phi tần, mỹ nữ ngày xưa. Không hiểu lời anh nói có đúng không nhưng tôi thấy não lòng, thương cho cảnh những cung phi cả đời bị giam cầm trong cung vắng không một lần diện kiến vua. Dừng chân lại nơi mà ngày xưa vua ngự triều, tôi thấy thương cho vị vua ngày xưa quá. Chiếc ngai vàng cũng cũ kỹ với thời gian. Trong trí tưởng tượng của tôi ngai vàng phải giống như trong những bộ phim thần thoại nước ngoài hay những phim cổ trang của Trung Hoa xa hoa, lộng lẫy nào ngờ nó chỉ bình thường như những chiếc ghế trong những gánh hát bội ở Saigon. Rồi chiếc kiệu hoa của những ông hoàng, bà chúa cũng nghèo nàn, xưa cũ . Ở đây có dịch vụ cho khách tham quan thử làm vua chúa một lần. Nhìn những bộ quần áo bạc màu theo thời gian, ẩm mốc tôi nghĩ chẳng ai muốn làm vua dù chỉ một lần. Tôi ghé lại Duyệt Thị Đường, nhà hát đang tổng dợt cho buổi văn nghệ sắp tới. Khung cảnh gợi tôi nhớ đến những buổi hát địa nàng mỗi khi cúng đình hồi tôi còn nhỏ. Một cảm giác bâng khuâng len nhẹ vào hồn. Văng vẳng đâu đây những câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo , Đền cũ lâu đài bóng tịch dương ". Hoàng hôn dần buông xuống. Bóng chiều nhạt nhoà trên những ô cửa rêu phong trong đại nội. Gió thổi lành lạnh. Quang cảnh dường như âm u hơn. Tôi nhìn quanh vẫn còn một vài đoàn khách nước ngoài tham quan. Họ nghĩ gì khi đứng trước một di tích lịch sử đang dần xuống cấp theo thời gian? Có bâng khuâng và nuối tiếc như tôi không?

Buổi sáng ngày thứ ba tôi dự đám giỗ ông nội của cháu gái. Cũng giống như những đám tiệc ở miền quê mà tôi thường gặp. Hình như tất cả mọi người trong thôn đều được mời. Đàn ông ở đây khi đến tuổi thanh niên đều có một bộ lễ phục là áo dài khăn đống để mặc mỗi khi có việc làng. Chiều đến, tôi cùng gia đình đi thuyền rồng ngược dòng Hương giang để viếng chùa Thiên Mụ. Tôi ngồi sát cửa nhìn xuống dòng sông. Khác với những lần tôi đi về miền Tây , nước sông đục ngầu màu đỏ của phù sa , nước ở đây chỉ một màu xanh lục. Tôi tự hỏi tại sao như vậy, phải chăng vì dòng sông đang bị ô nhiễm bởi chất thải từ những thôn làng cạnh bờ. Hai bên bờ những cổng làng, những bến sông thấp thoáng cạnh những hàng cau cao vút, những rặng tre xanh xanh. Thuyền đi gần vào thành phố ngang qua những công trình kiến trúc mới, ngang qua cầu Tràng Tiền và ngừng ở dưới chân chùa Thiên Mụ. Bước lên những bậc thang hơi dốc đứng chúng tôi lên chùa. Giống như hinh ảnh tôi thường thấy trong các tấm bưu thiếp. Tháp Phước Duyên trước chùa Thiên Mụ cổ kính, rêu phong. Càng vào trong khung cảnh càng thơ mộng. Hàng phượng vĩ buông mình theo con dốc uốn quanh dòng sông Hương. Tôi thầm nghĩ, vào mùa hè chắc khung cảnh nơi đây rất đẹp. Những cành phượng rực rỡ sẽ tô điểm cho bức tranh thủy mặc tuyệt mỹ này. Càng đi sâu vào trong chùa không khí càng trong lành, dễ chịu. Thời tiết năm nay khác thường nên các loại hoa cũng nở không đúng mùa. Vài cây đào nở sớm hoa đơm kín cả cành cây. Những cây mai vàng rực một góc sân. Mặt trời đỏ hồng như lòng đỏ của trái hột vịt muối đang dần khuất sau hàng dương phía sau chùa. Cô em gái tôi mặc chiếc áo dài màu tím Huế khiến những khách du lịch cứ ra dấu "one picture" rồi đưa máy ảnh lên chụp lia lịa và khen "Beautiful". Tôi dừng chân dưới tháp chuông và chợt nhớ đến câu ca dao :

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ , canh gà Thọ Xương.

Hình như thế hệ chúng tôi không ai là không biết câu ca dao này. Lúc nãy khi ngồi trên thuyền ngang qua một cái bến cháu tôi có chỉ: Đây là bến Vân Lâu. Những địa danh của xứ thần kinh mà hầu như ai cũng biết bến Vân Lâu, dốc Nam Giao, thôn Vĩ dạ ...

Sáng ngày thứ tư, tôi bắt đầu ra Đà Nẵng. Đường ra Đà Nẵng đi ngang qua đèo Hải Vân. Bây giờ thì đã có đường hầm đèo Hải Vân nên ít ai sử dụng đường đèo. Nhìn từ xa khung cảnh thật nên thơ. Tôi lặng ngắm con đường đèo nằm quanh co theo triền núi. Nơi mà vua vua Lê Thánh Tông đã từng phong tặng là " Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Tôi nghĩ nếu có dịp tôi sẽ đi qua đèo Hải Vân để ngắm cảnh.

Điểm đầu tiên mà tôi ghé ở Đà Nẵng là chùa Linh Ứng trong quần thể Ngũ Hành Sơn. Có lẽ, đây là ngôi chùa đẹp nhất trong những chùa mà tôi đã đến. Tượng Phật Bà cao sừng sững toạ trên toà sen quay ra biển thật uy nghi. Cháu gái tôi bảo: Đây là tượng Phật Bà lớn nhất Đông Nam Á. Buổi tối tượng được thắp đèn sáng choang đứng ở đâu cũng có thể nhìn thấy tượng. Chúng tôi đi vãn cảnh xung quanh chùa. Gió biển thổi vào mát rượi. Khung cảnh nơi đây thật nên thơ. Bãi biển Sơn Trà xanh ngát một màu. Trời nắng trong xanh nhưng không khí vẫn dễ chịu, không gay gắt như nắng Saigon. Đã dự định ghé thăm quần thể Ngũ Hành Sơn nhưng thời gian ở chùa Linh Ứng quá nhiều nên chúng tôi đành phải ra về.

Buổi chiều, tôi ghé thăm những cơ sở làm tượng đá gần bãi biển Sơn Trà. Những tảng đá vô tri đã được thổi hồn thành những bức tượng nghệ thuật thật khéo léo.Trời hanh nắng nhưng gió biển vẫn thổi mát lạnh. Rời các cơ sở làm tượng tôi tiếp tục đến Hội An. Bờ biển Đà Nẳng trải dài theo đường đi. Mùa này lạnh nên bãi tắm vắng người. Một điểm mà tôi rất thích ở Đà Nẵng là bãi biển rất sạch, không hề có rác. Cô cháu người Đà Nẵng đi cùng chúng tôi kể cho chúng tôi nghe một số điều mới của thành phố. Mấy ngày nay đi chung với những người Huế, Đà Nẵng, nghe những tiếng chi, mô, hỉ , rứa riết tôi cũng thấy quen tai. Nhưng thú thật khi nghe họ nói chuyện tôi không hiểu hết, cứ như người Việt ra nước ngoài nghe người Tây nói chuyện hiểu lõm bõm. Đôi khi trong câu chuyện tôi phải lịch sự mỉm cười, gật gù chứ thật ra chẳng hiểu gì mấy.

Đến Hội An thì trời vừa sụp tối. Những chiếc đèn lồng đủ màu được thắp sáng. Dãy phố cổ nằm cạnh con sông Thu Bồn sáng bừng lên. Khung cảnh làm tôi nhớ đến những mùa Trung Thu ngày còn bé, tôi và các anh chị hay giăng đèn chơi trung thu. Tôi thích đến đây vào ban ngày hơn để được ngắm những ngôi nhà cổ hàng trăm năm nhưng cô cháu đi cùng lại bảo: " Phố cổ ban đêm đẹp hơn". Tôi đi đến chùa Cầu, ngôi chùa cổ nổi tiếng của thành phố. Buổi tối nhìn không rõ lắm, quanh tôi rất đông khách du lịch nhưng đa số là người nước ngoài. Phần lớn những nhà trong phố cổ đều bán đèn lồng. Một vài ngôi nhà cổ là những quán cafe, gallery, quán ăn, khung cảnh khá dễ thương. Chị tôi dừng chân bên dòng sông Thu Bồn thả đèn hoa đăng ước nguyện. Những đoá hoa đăng lung linh trôi trên sông tạo nên những nét chấm phá rất dễ thương. Tôi rời phố cổ nhưng lòng vẫn tiếc, giá như được đến vào ban ngày.

Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm để đi bộ ra bãi biển Sơn Trà. Dự định ra xem ngư dân đánh cá trở về nhưng khi ra đến bãi thì các thuyền đã về từ khuya, chỉ còn rải rác vài chiếc thuyền thúng về muộn. Một ngư dân thấy tôi thích thú với chiếc thúng bèn nói : Cho cô mượn nè, tha hồ chụp hình. Bãi biển buổi sáng thật trong lành. Mặt trời ló dạng tạo nên một vệt sáng rất lạ trên mặt biển. Tôi đứng nhìn bờ cát trải dài xa tầm mắt. Phiá cuối chân trời thành phố Đà Nẵng hiện ra với những công trình kiến trúc mới giống như là cảnh của Singapore. Bây giờ , Đà Nẵng có lẽ là thành phố đẹp nhất khu vực phía Nam vượt qua Saigon.

Buổi chiều, tôi lại quay trở về Huế . Xe đi ngang qua một vùng biển dài , người cháu đi cùng nói với tôi: Đây là phá Tam Giang .Tôi mỉm cười , đẹp quá và chợt nhớ đến một câu hát ngày xưa: " Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em. Nhớ ơi là nhớ đến bất tận". Sáng mai, tôi sẽ đáp chuyến bay sớm nhất về lại Saigon chấm dứt những ngày tháng lãng du. Ôi! Có lẽ tôi sẽ còn quay lại Huế để tìm hiểu về những điều mình chưa biết, Huế ơi !

Những ngày cuối năm Quý Tỵ 2013
Thanh (khoá 5)

[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates