Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui
TIẾNG VIỆT ĐA DẠNG

ÔNG TRỜI VÀ CHỮ THIÊN 

Chữ "Trời" có nhiều nghĩa:

1. Phần màu xanh chung quanh và trên cao: Bầu trời, chân trời, da trời, giữa trời, thiên đỉnh, thiên văn, thiên văn học, vòm trời,

2. Chữ trời liên quan đến thời tiết: tiết trời, tốt trời (trời không có mây mù), trở trời, trời xấu, trờì bão, trời gió, trời giông, trời quang mây tạnh.

3. Vị thần linh cao cả, sáng tạo ra muôn loài trong vũ trụ và trên địa cầu, và quyết định vận mệnh muôn loài kể cả loài người.

Ông Trời được người Việt Nam gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Trời, Ông Trời, Ông Thiên, Thiên Đế, Tạo Hóa, Hóa Công, Ông Xanh, Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hoàng Thiên, Con Tạo, Trẻ Tạo hóa hay Hóa Nhi, Ông Xanh, Ổng (Ổng kêu ai người nấy dạ), Thiên Chúa, Chúa Trời, Chúa Cha.

Trời là một vị thần tối cao mà đa số dân chúng Việt Nam thờ phượng. Ông là người sinh ra muôn vật, ngự trị vũ trụ. Vua quan ngày xưa cúng tế Ông, dân gian ngày xưa hay ngày nay cũng thờ cúng Ông, vái van cầu khẩn Ông khi bi ốm đau, bệnh hoạn, hay cần ông giúp đỡ trong lúc gặp khó khăn trong đời sống hằng ngày. Ông quan sát và công minh trong việc thưởng người tốt và phạt người xấu. Ông quyết định duyên phận cho những cặp tình nhân. Ông cũng đóng vai trò của một “counselor” sẵn sàng nghe mọi lời thổ lộ buồn vui hay giận dỗi của con người.

Trời là một người bạn thân thiết của người bình dân. Ông hiện diện trong những lời nói hằng ngày, những lời truyền khẩu, trong văn chương bình dân (ca dao, tục ngữ). Ông cũng có mặt trong văn chương bác học như trong truyện Kiều và một số các áng văn chương khác.

ÔNG TRỜI VÀ CHỮ THIÊN
Lúc chúng tôi còn học năm đệ thất - lớp đầu bậc trung học, bài học vỡ lòng về chữ Hán Việt – HV - như sau:

Thiên trời, địa đất, thất mất, tồn còn

Tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba,
Kê gà, cẩu chó, bần khó, dương dê v.v.

Đây là cách dạy “bắt vần” cho dễ nhớ: Một chữ gốc Hán Việt (HV) kèm theo một chữ thuần Việt mà học sinh đã biết. Chữ đầu “thiên” - HV có nghĩa là “trời” - thuần Việt, và cứ thế mà học.

CHỮ THIÊN CÓ NHIỀU NGHĨA

Thiên = Đoạn văn dài hay một bài văn: “Trường (đoản) thiên tiểu thuyết’ = quyển tiểu thuyết dài (ngắn).
Thiên = “Lệch qua 1 bên”: Xử thiên = không cân đồng”; “kiêm thính tất minh; thiên thính tắc ám” = nghe nhiều bên biết rõ (vấn đề); nghe riêng 1 bên thì không rõ (đầu đuôi) câu chuyện”. Thiên cộng, nghiêng về phía cộng sản. Thiên hữu, ngả theo phía hữu (thường chỉ phe bảo thủ, muốn dân nghèo tự lo cho họ, giúp họ phương cách tự lo). Thiên tả, ngả theo phe cấp tiến lo việc xã hội giúp tiền cho dân nghèo có số lợi tức căn bản. Thiên kiến, ý kiến thiên lệch, không công bình, không khách quan. Thiên phế, binh người nầy bỏ người kia. Thiên manh, chột một mắt. Thiên tâm, lòng không ngay thẳng.

Thiên
= Di chuyển, dời đổi, thay đổi.

Thiên di: 1. Cung Thiên Di trong Tử Vi nói về sự đi lại. 2. Loài chim thiên di (bird migration).
Thiên đô: dời đô (trước đây cứ tưởng là cung vua, cung trời). Cổ văn có bài Thiên Đô Chiếu của vua Lý Công Uẩn nói về việc dời đô từ thành Hoa Lư ra thành Đại La (còn có tên Thăng Long Thành, tức Hà Nội ngày nay*).
Thiên cư: Dời nhà. Trong bài thơ “Di cư quỳ châu tác” của Đỗ Phủ có câu
Phục chẩm Vân An huyện,
Thiên cư Bạch Đế thành.**
* Chúng tôi chú thích thêm: Đời Trần, Lê Quý Ly xin vua Trần Thuận Tông thiên đô vào thành Tây đô, Thanh Hóa ngày nay.
** Đoạn chữ nghiêng (italic) bên trên là do môn đệ Trung Nguyễn emailed đến chúng tôi.

Thiên cải, di chuyển đi, dời chỗ. Thiên diên, lần hồi ngày này qua ngày khác. Thiên nhậm, đi trấn nhậm ở một nơi khác theo lệnh cấp trên.
Tiếp theo đây là câu chuyện do môn đệ Cao Nam Thiên emailed đến chúng tôi để góp ý về chữ “thiên” – di chuyển hay dời đi -, trong bối cảnh về chính cái tên cúng cơm của anh thời còn học ở Trung Học Kiểu Mâu Thủ Đức (đoạn chữ nghiêng bên dưới*).

* Ông cụ tôi đi lính từ thời Tây. Sau đó Tây chuyển quân đội cho VN. Đơn vị chuyển về nam sau trận Điện Biên Phủ. Cao Nam Thiên sanh tại Thừa Thiên, Huế, nên ông cụ đặt tên là Cao Nam Thiên. Có nghĩa là họ Cao đi về Nam, Thiên có nghĩa là Đi (di chuyển). Nhưng lúc đi học thì thầy Nguyễn Mạnh Quang lại bảo là Cao Nam Thiên có nghĩa là Trời Nam cao lồng lộng. Làm cứ mỗi buổi trưa, khi bị thầy Quang phạt nên đứa nào cũng tức. Chúng liền lôi CNT ra và bảo là tên láo quá, tại sao lại có tên là Ông Trời.
Thế là trưa nào khi bị phạt, “giận cá chém thớt”chúng bèn hè nhau trùm chăn lên đầu CNT và đánh cho túi bụi: Tại cái tên của mầy mà chúng tao bị phạt”. Làm CNT phải bảo là: “Thời thơ ấu nhiều đau thương vì chúng chỉ biết một mà không biết mười”.
Xin Sư Phụ khi viết bài hãy kể thêm ý nghĩa chữ THIÊN là Di Chuyển.
CNT

Thiên = Ngàn (nghìn): Một thiên ngói, một thiên lá. Thiên cổ = ngàn xưa, ngàn đời, còn mãi mãi, nhiều lắm, hay lắm. Danh lưu thiên cổ - tiếng để ngàn đời, danh tiếng hay lắm. Thiên hộ = Huê lợi hằng năm bằng thuế thu được từ một ngàn hộ. Thiên hộ còn chỉ một chức vụ ngang với chức “cai tổng” (người công chức có quyền quản trị nhiều xã hay làng) do vua phong cho người có công hoặc người giàu có thường giúp tiền nuôi quân lính. Dưới chức thiên hộ là chức bá hộ, cũng chỉ người giàu có.

Thiên kim = Ngàn vàng, đáng giá ngàn vàng, thật quý giá. Thiên kim tiểu thơ = Cô gái nhà giàu sang. Nhất tiếu thiên kim = Một nụ cười đáng giá ngàn vàng. Thiên khê = Của tiền thiên khê.
Thiên lý = Ngàn dặm. Thiên lý kính = Kính có độ nhìn ngàn dặm; còn có tên viễn vọng kính. Thiên lý mã = Ngựa hay, có thể đi xa ngàn dặm. Đường thiên lý = Đường xa diệu vợi. Thiên hình vạn trạng = muôn ngàn hình dạng khác nhau, không biết trước được sự thay đổi. Thiên sơn vạn thủy = Đường cách trở xa xôi, cách muôn ngàn sông nước. Thiên tải = Ngàn năm có nghĩa thời gian thật lâu. Thiên tải nhứt thì = Ngàn năm một thuở, chuyện ít khi xảy ra. Thiên tải kỳ phùng = cuộc gặp gỡ hiếm có. Thiên tuế = Ngàn tuổi; đây là tiếng gọi tôn xưng người có chức phận cao sang ngày xưa. Thiên tuế còn là tên của 1 loài cây sống lâu, dùng làm kiểng hay cây cảnh. Thiên thu = Ngàn năm, luôn cả đời. Giấc ngủ thiên thu hay thiên thu vĩnh biệt = Chỉ người thân yêu lìa đời. Thiên trùng= Ngàn trùng, ngàn lớp chồng chất; cũng có nghĩa đông đúc, vô số người; cũng có nghĩa xa cách: Nghìn trùng xa cách, thiên trùng xa cách, khó gặp lại nhau. Thiên vàn = Ngàn muôn = Nhiều vô số.

THIÊN = TRỜI
1. Trời là Đấng tạo hóa, đấng sanh ra vũ trụ
Như đã nói trong phần nhập đề, Thiên hay Ông Thiên, Ông Trời có nhiều tên khác nhau trong ngôn ngữ Việt Nam. Ngôn ngữ Việt Nam có nhiều từ ngữ dùng chữ thiên:
Thiên ân, ơn trời; còn là ơn vua – vì vua là con trời.
Thiên bẩm, tánh trời cho.
Thiên binh, binh lính của trời.
Thiên can, can hệ do trời. (Gồm thập can: Giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý. Đi chung với thập nhị chi (Tí sửu dần mẹo …) thành một “ngươn”. Ngươn là hiện tượng tuần hoàn 60 mươi năm, để tính tuổi và cũng dùng xem vận mạng tốt xấu của con người.
Thiên công, thợ trời; tiếng ví ông trời như một người thợ khéo léo, tạo ra vạn vật. Thiên cơ, máy trời; chỉ việc trời sắp xếp trước mọi việc, kể cả cuộc sống của mọi người.
Thiên cung, cung đình của trời.
Thiên chúa, hay Chúa trời, vị cao trọng nhất trong Thiên chúa giáo.
Thiên diễn, sự diễn tiến tự nhiên do trời như tuổi già.
Thiên duyên, căn duyên do trời định.
Thiên đàn, chỗ tế trời. Đàn Nam Giao ở phía Nam Huế, là nơi các vị vua nhà Nguyễn làm lễ tế trời vào ngày rằm tháng giêng hàng năm.
Thiên đàng (đường), thế giới sung sướng mà sau khi chết, người tốt sẽ được lên cư ngụ trên đó. Trong truyện Kiều có câu: “Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu”.
Thiên đạo, đạo trời, lẽ phải tự nhiên mà người đời phải theo. Thiên đế hay ngọc đế, một từ ngữ khác chỉ Ông trời, vua của vũ trụ.
Thiên đình, sân chầu trời ở trước thiên cung, nơi mà dân gian tin rằng mỗi năm táo quân ở khắp nơi tụ họp để báo cáo chuyện trần gian với thượng đế.
Thiên định, trời định.
Thiên điều, luật trời.
Thiên giới, thế giới tiên thánh trên trời theo sư tin tưởng phổ thông; đối lại với địa giới của con người trên địa cầu.
Thiên hậu, bậc sau trời, tức là vua.
Thiên hình, hình phạt trời dành cho kẻ gian ác.
Thiên ý, thiên tâm, ý trời lòng trời.
Thiên la địa võng, lưới trời lưới đất, nghĩa bóng chỉ luật trừng phạt tự nhiện mà người làm chuyện sai trái sẽ bị trừng phạt.
Thiên lý, lẽ trời, những lý lẽ mà từ xưa đến giờ con người chấp nhận là lẽ đúng. Thiên lý sử nhiên, lẽ trời khiến như vậy.
Thiên lộc, việc tốt do trời cho, hay việc tốt do vua ban phát.
Thiên lôi, thần sấm sét thi hành lệnh trời đi trừng phạt kẻ gian ác. Nghĩa bóng chỉ những người làm công trung thành, chủ bảo đâu làm đó y lệnh; nghĩa bóng khác là tiếng mắng dành cho một người có hành động xấu.
Thiện luân, đạo trời hay đường lối chánh đáng, không mưu mô xảo quyệt.
Thiên luận, do lập luận của Lão Tử về quan niệm “Trời”. Ông lý luận rằng ông không tin nơi Trời mà chỉ tin nơi “Đạo”. Đạo, theo ông là sự Tự Nhiên.
Thiên lương bản tính tốt tự nhiên hay lương tâm của con người do trời sanh.
Thiên mạng, mạng trời, số trời định đoạt cho mỗi sinh vật.
Thiên nhãn, mắt trông suốt mọi việc chung quanh.
Thiên oai, uy thế của trời.
Thiên phận, thiên mạng hay thiên số, phần số hay mạng sốn trời đã dành cho mỗi người. Thành ngữ thiên số nan đào, số trời khó thoát.
Thiên phú, trời cho, trời phù hộ; thiên phú địa tái, trời che đất chở.
Thiên phủ, cõi trời. Theo tin tưởng chung về vũ trụ thì có 3 cõi: Thiên phủ, địa phủ và thủy phủ. Chữ thiên phủ còn có nghĩa là một cuộc đất tốt, có nhiều sản vật và dễ phòng ngự (về an ninh, quân sự).
Thiên tử, vua (vua được xem là con trời).
Thiên hậu, bậc sau trời, tức là vua. Thiên nhan chỉ vua như về triều bái kiến thiên nhan.
Thiên tôn, Đấng thiên tôn, ông Trời.
Thiên tước, tước lộc trời ban phát cho.
Thiên tướng, thiên thần, tướng và thần trời sai xuống giúp nước. Theo truyền sử VN, Phù Đổng Thiên Vương là một thiên tướng do trời gởi xuống giúp dân Việt dẹp giặc Ân.
Thiên uy, thiên oai, oai vệ của trời.

2. Thiên = Trời nói chung, chỉ Bầu trời, phần màu xanh bao la trên đầu chúng ta; Cũng chỉ sự xa cách.
Hiệu thiên, trời cao.
Thượng thiên, trên trời.
Thiên biên hay thiên nhai, chân trời, chỉ nơi xa xôi, (thiên nhai hải giác là chân trời góc biển).
Thiên biến, hiện tượng thay đổi trên trời.
Thiên chương, những gì đẹp trên trời như ánh mặt trời lúc rạng đông hoặc hoàng hôn, ánh sáng trăng rằm, các vì sao lấp lánh về đêm.
Thiên đỉnh, điểm cao nhất trên bầu trời. Tùy theo mùa, khi mặt trời di chuyển thành 1 vòng cung trên trời, điểm cao nhất của vòng cung gọi là thiên đỉnh, đó là lúc mà dân Việt gọi là “đúng ngọ”; sau lúc đó là bắt đầu về chiều.
Thiên độ, khoảng nghiêng giữa một hành tinh như mặt trăng, với đường xích đạo của quả đất.
Thiên hà, còn gọi Sông Ngân hà, là dải mây trắng trên trời trông như một dòng sông màu bạc, do áng sáng của nhiều sao họp thành.

Ca dao:

Đêm đêm tưởng giải ngân hà
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Thiên thanh, màu xanh da trời.
Thiên thể, hay thiên văn, tiếng chỉ chung các vì sao trên bầu trời.
Thiên văn đài, đài quan sát sự chuyển động các thiên thể/vì sao.
Thiên văn học, môn học nghiên cứu về sự chuyển động và ảnh hưởng của các thiên thể đến địa cầu.
Thiên văn còn là môn học xem sao để đoán vận mệnh con người.
3. Thiên chỉ: Ngày, mùa, tiết; những hiện tượng tự nhiên có trong trời đất.
Kim thiên, hôm nay; minh thiên, ngày mai; tiết đông thiên lạnh lẽo, thời tiết mùa đông lạnh.
Thiên chức, chức vụ tự nhiên, bổn phận, và trách nhiệm của con người.
Thiên khí, hiện tương tự nhiên trong không khí như mưa gió, giông bão, con trốt, tuyết sa v.v.
Thiên không, khoảng trống giữa mặt đất và thiên khung, (bầu trời cao bên trên).
Thiên kinh, đạo nghĩa tự nhiên trong trời đất; thường dùng chung trong thành ngữ thiên kinh địa nghĩa; thí dụ bổn phận cha mẹ lo nuôi nâng con cái cho nên người là một việc thiên kinh địa nghĩa.
Thiên tai, tai nạn khí tượng do Trời sanh ra như bão, lụt, giông trốt (tornado)
Thiên tài, tài năng trời cho, không học nhiều mà vẫn giỏi hơn người.
Thiên hương, sắc đẹp lộng lẫy của phái nữ do trời cho, tự nhiên như mùi thơm. Thiên hương quốc sắc, người đàn bà đẹp mà cả nước công nhận; (hoa hậu của quốc gia).
Trong Truyện Kiều có câu:
Người quốc sắc* kẻ thiên tài**
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
* Chỉ nàng Kiều; **Chỉ Kim Trọng.
Thiên nhiên, cảnh trời tạo ra tự nhiên.
Thiên quang, ngày trong sáng, tốt trời.
Thiên hiểm, nơi có địa thế thiên nhiên chập chùng, rất nguy hiểm khi đoàn quân đi ngang qua.
Thiên tư, tư chất trời cho.
Thiên thời, cơ hội trời ban, thuận lợi cho mọi việc.
4. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao dùng chữ thiên

Thành ngữ tục ngữ

Của thiên trả địa – của cải trời cho, trả lại cho đất: Chỉ sự có tiền rồi mất tiền trong khoảng thời gian ngắn.
Thiên bất dung gian = Trời không dung tha người gian.
Thiên cơ bất khả lậu = Chuyện tính toán trước của trời không thể tiết lộ.
Thiên đạo chí công = lẽ phải của trời đất rất công bằng.
Thiên đường tại thế = Tại thế gian nầy có thể tìm thấy cuộc đời an vui.
Thiên cát nhất phương = Xa cách nhau mỗi người mỗi phương trời.

Truyện Lục Vân Tiên (tác giả Nguyễn Đình Chiểu):

Tiên rằng “thiên cát nhất phương”,
Thầy đeo đoạn thảm, tớ vương mối sầu.

Thiên hạ vi công = Lấy sự sống còn của mọi người (dân sinh) làm căn bản cho mọi hoạt động chánh trị, kinh tế xã hội. Đây là một trong “tam dân chủ nghĩa” của Tôn Văn hay Tôn Dật Tiên (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Ông là một trong những người thành lập Trung Hoa Dân Quốc sau khi nhà Thanh bị lật vào năm 1911.
Thiên hành dĩ quá* = Trời khiến cho qua. *Bốn chữ HV nầy trích trong sách Chính Khí Ca của Văn Thiên Tường. Những người tin tưởng vao bùa chú thường có 4 chữ nầy dán ở cửa để trừ tà.
Thiên tru địa lục = Trời giết đất dứt (câu nầy thường dùng làm lời thề giữa 2 người, hoặc 2 nhóm khi hứa làm chung một việc gì, không được thất hứa hay phản bội nhau).
Thiên trường địa cửu = Trời đất còn hoài.
Thiên thư định phận = Sách trời đã định trước số phần của mỗi người.
Thiên lý tại nhân tâm = Lẽ trời ở trong lòng con người. Làm quấy hay làm đúng là do lòng mình mà thôi, đừng đổ thừa là tại trời.
Thiên thời, địa lợi, nhơn hòa = Thời trời tốt, địa thế tốt, lòng người hòa thuận, là ba điểm tốt cho người cầm quyền hay cho người làm ăn.
Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu = lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt qua; chỉ người làm việc sai trái, dù nhỏ như mảy lông cũng không tránh khỏi việc trời phạt.
*Thiên sanh nhơn, hà nhơn vô lộc
*Địa sanh thảo, hà thảo vô căn
Hơn không cũng kiếm cho bằng
Có đâu thua bạn bạn hòng cười chê.
(*Trời sanh ra loài người, ai cũng có miếng ăn
Đất sanh cỏ, cỏ nào không rễ).

Ca dao:
Danh tại thiên*, mẫu tồn tại thủy**
Gẫm phận mình niên kỷ ấu sinh***
*Con “ròng ròng” = con cá lóc con; chữ ròng có thể đọc trại ra chữ “rồng” con vật tưởng tượng là sống trên trời;
** Mẹ ở trong nước.
*** Nghĩ phận mình tuổi còn nhỏ.
Đây là một loại câu đố: Con gì có tên thuộc về trời, mà mẹ sống trong nước?
Câu trả lời: Con cá lóc con (cá lóc lúc còn nhỏ) vì cá con được nông dân gọi là con “ròng ròng”.
Trời thương người nhân nghĩa
Thiên cao đã có thánh tri
Người nhân nghĩa chẳng hàn vi bao giờ.
(Trời cao có thánh thần biết,
người có nhân nghĩa Trời sẽ chẳng để nghèo khó.)

Nàng bày tỏ sự thương nhớ chàng
Trên thiên dưới thủy
Lòng em tu bỉ ở vậy chờ anh
Chờ chừng nào cho bông thọ trắng trở xanh
Em đây mới lấy chồng.
Chàng nói lên nỗi lo âu, dùng 2 câu chữ Hán Việt nhập đề:
Danh lưu thiên cổ*
Thiên cơ bất khả lậu
Nếu anh theo bậu
Ấy chính tại ông Trời
Thiên công đà sắp sẵn,
Nhơn duyên đã định rồi
Bậu ơi xin chớ đứng ngồi.
Làm anh hồi hộp, sống đời lo âu.
*Tên lưu ngàn năm, **Cơ Trời không nói ra được.
Chàng nhớ nàng sau buổi gặp mặt,
mượn 2 câu có chữ thiên làm câu nhập đề
Tiết đông thiên lạnh lẽo
Tánh Thiên phú (thiên bẩm) trời sanh.
Nhìn nàng đôi mắt long lanh
Ra về vơ vẩn, lòng anh nhớ nàng.

Nàng hỏi khó chàng
Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời
Thuở tạo Thiên lập địa ông trời do ai sanh?
Em hỏi chi cái chuyện bất bình
Thuở tạo Thiên lập địa, chúng mình có ở đâu.

Nhưng mà nhân duyên là chuyện *“ngàn năm một thuở”,
Nàng hãy quyết định ngay, không phải lo chuyện giàu nghèo
Chữ nhân duyên *“thiên tải nhất thì”
Giàu ăn, khó chịu, chớ có gì mà lo.

Huntington Beach
Nguyễn Hữu Phước, Edited 9-3-2016

Xem các phần khác: 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu qua emails:
- Ba “bạn trẻ - môn đệ” cựu học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức ghi ra và email cho chúng tôi một số khá nhiều những câu ca dao, thành ngữ liên quan đến Ông Trời: Huỳnh Công Lộc, Cao Nam Thiên, Nguyễn Quang Trung. Thành thật cảm ơn các bạn.
- Ngoài ra chúng tôi cũng cảm ơn một môn đệ TH KMTĐ đã giúp tôi sửa chánh tả những bài về Ông Trời, nhưng đồng ý ẩn danh.
- Bằng hữu Cao Tấn Võ, tác giả quyển Văn Phạm Việt Nam, giải thích giúp chúng tôi những bài thơ chữ Hán Việt, và rất nhiều buổi điện đàm về việc “thờ Trời” của dân Việt. Thành thật trân quý sự đóng góp của anh Cao Tấn Võ.

B. Internet: Bàn Ông Thiên, trích từ web internet Hình Bàn ông Thiên bằng cột gỗ, ván do Gs Trần văn Chi (trích từ internet) gởi đến chúng tôi. Thành thật cảm ơn sư Trần văn Chi đã sốt sắng gởi tài liệu về việc thờ cúng “Ông Thiên” – thờ cúng Ông Trời, của dân miền đồng bằng sông Cửu Long.

C. Sách
1. Đào Duy Anh (?). Hán Việt Từ Điển. Trương Thi XB, Sài Gòn Việt Nam.
2. Joseph Trương Kỷ, (2000).
Thiên Chúa Giáo Và Tam Giáo. Đường Thi xb. U.S.A.
3. Lê Thái Ất (2003). Văn Hóa Việt Nam. XB-Phát hành: Nguyễn Viết Đức, CA, USA.
2. Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ. 1970. Việt Nam Tự Điển. Nxb Khai Trí, Saigon, VN.
3. Phan Tấn Tài* (2005-8). “Ca Dao Miền Nam” Đặc San Đồng Nai-Cửu Long .
Nxb:Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Westminster California, USA.
Chú thích: *Những câu ca dao của Ts Phan Tấn Tài đã được trích từ những quyển sách sau đây, và những câu do Ts PTT ghi lại từ các bạn già khác.
Chúng tôi thành thành thật cảm tạ Ts Phan Tấn Tài, những bạn già, và những tác giả của những quyển sách liệt kê bên dưới.
[1] Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt nam, in lần thứ 8, 1977;
[2] Lư Nhất Vũ; Lê Giang; Lê Anh Trung: Hò Nam bộ (Vidéo), 1992;
[3] Lê Giang: Bộ hành với ca dao. NXB Trẻ, 2004;
[4] Ghi lại từ ký ức PTT&ĐTV;
[5] Hà Phương Hoài: Tự điển ca dao (www.vietnam-on-line.com; http://e-cadao.com);
[6] www.vietthings.com;
[7] Nguyễn Đăng Thục: Tư tưởng Việt Nam, NXB Khai Trí, 1964;
[8] Đoàn Thị Thu Vân: Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ.
(www.thoangsaigon.com);
[9] Ghi nhanh trong một buổi tọa đàm tại tư gia Gs Trần Văn Khê, 1973.


 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates