Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

Tiếng Việt Đa Dạng
Chữ Ăn - Tình Cảm Nam Nữ trong Ca Dao
(phần 1)

Tôi vừa “ăn sáng” xong ở McDonalds về đến nhà, ngồi vào bàn viết đánh máy bài về “chữ ăn”. Tôi viết xuống đây một câu để chúng ta cùng cười: Tôi “ăn sáng kiểu Mỹ”, và “viết bài về VN”, tôi sống trong hiện tại, đang viết chuyện về dĩ vãng. Chỉ một câu trên thôi, tôi đã có 3 chữ ăn trình làng.

Những chữ ăn theo nghĩa đen là nhai, nuốt thực phẩm vào bụng cũng như cách ăn thường là những chữ quá quen thuộc và quá dễ hiểu: ăn cơm, ăn cháo; ăn chay ăn mặn; ăn bốc, ăn bằng đũa bằng nĩa; ăn cơm nhà, ăn nhà hàng, ăn nhậu.

Nhưng dân ta rất tha thiết với chữ ăn và dùng chữ ăn dưới nhiều dạng, nhiều tình huống, nhiều hoàn cảnh khác nhau:

1) Chữ ăn theo nghĩa thông thường của ăn uống và
2) Chữ ăn trong việc bày tỏ tình cảm của nam, nữ thật phong phú và da dạng.

Các nhà văn học xếp ca dao vào loại “Văn Chương Bình Dân”. Chúng ta chỉ có những tác giả sưu tầm và xuất bản sách về ca dao, nhưng họ không biết tác giả của những câu ca dao là ai vì các câu ca dao ngày xưa thường là những câu truyền miệng.

Hầu hết những câu ca dao chúng tôi sưu tầm qua các sách, báo, và internet để dùng trong những bài về chữ ăn đều có liên hệ ít nhiều đến đồng bằng Cửu Long, mà ngày xưa vua Minh Mạng (1820-1840) đặt tên là Lục Tỉnh*. (*Xin xem chú thích về hai chữ “lục tỉnh” ở cuối bài, chữ nghiêng – italic)

Chữ ăn có nghĩa thông thường

Ớt dù cay vẫn ăn cả vỏ
Chuối dù ngọt lột vỏ mới ăn.

Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

Con quạ nó đứng đầu cầu
Nó kêu bớ má: têm trầu khách ăn

Gió đưa, gió đẩy về rẫy* ăn còng,
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.

Anh chê em ở rẫy ăn còng
Còn anh ở chợ ăn ròng* mắm nêm.

*Rẫy: Vùng trồng rau cải.
** Ròng: không pha trộn. Vàng ròng là vàng nguyên chất.
(Ròng còn có nghĩa giỏi: binh ròng,tướng mạnh).

Gió lên rồi căng buồm cho sướng,
Gác chèo lên ta nướng khô khoai*

*Khô cá khoai

Nhậu *cho tiêu hết mấy chai,
Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo.

*Nhậu:Vừa ăn vừa uống rượu.

Tháng ba cơm gói ra hòn*,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang Mai**

* Hòn: Đảo nhỏ; **Hang khỉ.

Có một số câu ca dao có ghi rõ địa danh, chỉ đặc sản của vùng đó. Câu ca dao nào không ghi rõ địa danh, nếu chúng tôi biết,chúng tôi ghi thêm vào.

Nước mắm Hòn là loại nước mắm thơm ngon ngày xưa sản xuất ở đảo Phú Quốc.

Gặp cơm Ba Thắc* thơm ngon,
Chang nước mắm Hòn** ăn chẳng muốn thôi.

*Một địa danh thuộc vùng Hậu Giang.
** Nước mắm chế biến từ cá bắt được ở vùng đảo Vịnh Thái Lan

Tỉnh Gò Công nổi tiếng về mắm tôm, tôm chua lẫn tôm chà (mắm tôm đã chà nát ra, thành nước sệt).

Gò Công đặc sản tôm chua
Ăn qua đều phải đi mua đem về.
Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà,
Ăn qua đều thảy hít hà khen ngon.

Vùng Đồng Tháp, còn gọi là vùng Tháp Mười, thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. Cây bông Súng mọc rất nhiều ở nơi ngập nước. Đân Đồng Tháp hái Bông Súng làm rau ăn vời món mắm kho, ngon tuyệt.

              Muốn ăn bông súng mắm kho, 
              Thì vô Đồng Tháp* ăn no đã thèm.

Tỉnh Bến Tre, gồm những đảo giữa Tiền Giang và Hậu Giang, có nhiều tôm cá, và cá trê rất nhiều.

Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.
Canh bầu nấu với cá trê
Chồng ăn một bữa chồng mê tới già.

Ngoài cá lóc cá trê, và nhiều loại cá khác, “dân nhậu” – những người vừa ăn vừa uống rượu, cũng thích nhậu với những thức ăn nấu bằng những những loại thịt khác của vùng ruộng vườn:

Cần chi cá lóc, cá trê,
Thịt chuột, thịt rắn, nhậu mê hơn nhiều.

Chữ ăn trong sự diễn tả tình cảm giữa nam nữ:

Chữ ăn dùng như một chữ nhập đề trong câu ca dao dẫn nhập vào ước mong chuyện trao đổi hay thố lộ tình cảm giữa nam, nữ ở thôn quê qua các câu ca dao.

Con tỏ lòng thương mẹ qua chữ ăn:
Đói lòng ăn đọt chà là,
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già đau răng.

Cha mẹ có lời nhắn nhũ cho con gái dùng trái nhãn trái xoài và chữ ăn:

Chim khôn ăn nhãn, ăn xoài
Gái khôn tìm đấng trai tài kết duyên.

Cha mẹ khuyên con đừng gây nhau, dùng chim quyên, trái ổi, và chữ ăn làm câu dẫn nhập:

               Chim quyên ăn trái ổi chua
               Vợ chồng còn nhỏ ăn thua làm gì.

Chàng rể vừa tỏ lời nịnh ông bà già vợ, vừa khen vợ bằng cách mượn trầu và thuốc làm câu nhập đề có chữ ăn:

              Trầu ăn là nghĩa, thuốc xỉa là tình
              Đội ơn phụ mẫu sanh mình dễ thương.

Chàng trai nhà quê chân tình nhưng biết chơi chữ với nàng, không biết chàng thèm (chữ ăn hiểu ngầm) mắm kho rau luộc hay thích nàng, thèm nàng:

              Chiều chiều ra đứng ngõ sau
              Thấy em kho mắm luộc rau anh thèm.

Chàng trai nông thôn, mộc mạc, chân thành, diễn tả tình thương với nàng chỉ dùng 3 chữ: cơm, cá và canh và chữ ăn:

Ăn cơm có cá với canh
Ăn vô mát bụng như anh gặp nàng.

Nàng cũng rất thật tâm săn sóc cho miếng ăn của chàng:
Biết anh thích (ăn) mắm cá trèn,
Nên em chịu khó bẻ thêm đọt xoài.
Anh chàng này cũng rất thành tâm trong việc bày tỏ tình cảm:

Bậu với qua gá nghĩa chung tình,
Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng cam.

Một chàng khác có nhiều ngôn từ hơn, dùng trời cao đất rộng, dùng cá lòng tong, một loại cá nhỏ ở sông, ẩn bóng ăn rong để tỏ tình cùng nàng, sau khi đã đi khắp vùng Lục Tỉnh”

              Ngó lên trời, trời cao lồng lộng,
              Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông,
              Cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
              Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
              Đến đây xui khiến đem lòng thương em

Một chàng trai khác nữa khen cách ăn nói nhu mì khôn ngoan của nàng là hạng nhất vùng lục tỉnh:

              Nội trong lục tỉnh Nam Kỳ,
              Thấy em ăn nói nhu mì anh thương
Dân vùng lục tỉnh chê mấy thanh niên không biết làm vườn, làm ruộng, đánh cá câu tôm:
              Ai ơi! đừng (chớ) lấy học trò
              Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
              Ngày thời cắp sách đi rong
              Tối về lại giữ đèn chong một mình.

Chàng người Cao Lãnh, nàng là gái vùng Nha Mân. Gặp nàng chàng mê mẫn, muốn cưới nàng đem về sống ở quê mình nên khi gặp nhau chàng vừa nói về mình, vừa khen nàng:

Trai nào siêng cho bằng trai Cao Lãnh
Gái nào bảnh (đẹp) cho băng gái Nha mân.

Tiếp theo chàng tỏ lời nối thành duyên nợ và rũ nàng về quê chàng chung sống, dễ bề lập nghiệp làm ăn:

               Ai về Cao Lãnh thì về,
               Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.

Khi chàng và nàng đã yêu nhau, nếu cấm đoán không cho hai trẻ gặp nhau, bằng cách khóa cửa, dấu chìa khóa không để chàng vào nhà, nàng bèn “giả biệt mẹ cha (dông theo chàng); Đoạn văn con “cá rô ăn móng” bên dưới chỉ là câu mào đầu cho chuyện bỏ nhà ra đi:

               Cá rô ăn móng, dợn sóng dưới đìa
               Ba má không thương nên vặn khóa bẻ chìa,
               Chìa hư, ống khóa liệt, hai đứa mình từ biệt mẹ cha.

Sự diễn tả tình cảm giữa nam và nữ với tình thương cao độ, với quyết định táo bạo bỏ cha mẹ ra đi, tạm chấm dứt phần đầu của bài Chữ Ăn, Tình Yêu Nam Nữ Qua Ca Dao.

*CHÚ THÍCH VỀ CHỮ LỤC TỈNH hay SÁU TỈNH: Sáu tỉnh thời vua Minh Mạng (1820-1840) trải dài từ vùng Biên Hòa ngày nay, cho đến vùng An Giang. Sáu tỉnh có tên: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Dưới thời Pháp thuộc, sáu tỉnh nầy được chia nhỏ lại thành 21 tỉnh kể cả Vũng Tàu mới thêm sau khi thị xã Vũng Tàu, nhận một phần của tỉnh Bà Rịa, được đổi từ thành phố sang tỉnh.

Từ năm 1954 khi đất nước chia đôi, những tỉnh miền Bắc vĩ tuyến 17 cò có tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,theo thể chế cộng sản thuộc quyền cai trị của đảng cộng sản. Miền Nam vĩ tuyến 17 thuộc chánh phủ quốc gia, còn có tên Việt Nam Cộng Hòa, theo thể chế dân chủ, gồm có 40 tỉnh, kể cả 21 tỉnh thuộc miền Đồng Nai - Cửu Long vừa nói bên trên.

Tình trạng 21 tỉnh của Miền Đồng Nai- Cửu Long kéo dài cho đến hết năm 1975. Vào năm 1950 khi chúng tôi học đến lớp nhất – lớp 5 ngày nay, chúng tôi học thuộc lòng tên 21 tỉnh nầy, (và bây giờ vẫn còn nhớ mồn một) qua 3 câu sau đây:

Gia - Châu - Hà - Rạch - Trà - Sa - Bến
Long - Tân - Sóc - Thủ - Tây - Biên - Mỹ
Gò - Chợ - Vĩnh - Bạc - Bà - Cần - Cấp

(Gia Định, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh, Sa Đéc, Bến Tre,
Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Mỹ Tho,
Gò Công, Chợ Lớn, Vĩnh Long,Bạc Liêu, Bà Rịa, Cần Thơ, và Cấp - Vũng Tàu ngày nay - nhưng vào 1950 có tên Pháp là tỉnh Cap Saint Jacques).

CẢM TẠ về nguồn tài liệu:

Chúng tôi chân thành cảm ơn các bạn Trần Lan Hương, Huỳnh Công Lộc, và Nguyễn Quang Trung, cựu học sinh Trung Học Kiểu Mẩu Thủ Đức, đã góp ý về chữ “ăn” của VN.

Chúng tôi cũng chân thành cảm tạ Tiến sĩ Phan Tấn Tài, giáo sư tại Đại Học Hanover, Đức Quốc, đã gởi cho chúng tôi sưu tập 60 trang (hơn 6 năm trước) về Ca Dao Miền Nam mà ông đã sưu tầm và so sánh giữ các tài liệu do ông ghi bên dưới. Chúng tôi không có một tài liệu nào trong số tài liệu của ông ngoài 60 trang vừa nói. Chúng tôi cũng cảm ơn những tác giả của nguồn tài liệu mà Tiến sĩ Phan Tấn Tài đã dùng.

Tài liệu sưu tầm của Tiến sĩ Phan Tấn Tài:

Sau đây là những tài liệu sưu tầm được chọn tối thiểi là 10 bài ca dao, những tai liệu còn lại sẽ được ghi trực tiếp sau mỗi bài.
[1] Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt nam, in lần thứ 8, 1977;
[2] Lư Nhất Vũ; Lê Giang; Lê Anh Trung: Hò Nam bộ (Vidéo), 1992;
[3] Lê Giang: Bộ hành với ca dao. NXB Trẻ, 2004;
[4] Ghi lại từ ký ức PTT&ĐTV;
[5] Hà Phương Hoài: Tự điển ca dao (www.vietnam-on-line.com; http://e-cadao.com);
[6] www.vietthings.com;
[7] Nguyễn Đăng Thục: Tư tưởng Việt Nam, NXB Khai Trí, 1964;
[8] Đoàn Thị Thu Vân: Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ. (www.thoangsaigon.com);
[9] Ghi nhanh trong một buổi tọa đàm tại tư gia Gs Trần Văn Khê, 1973.
Nguyễn Hữu Phước
Huntington Beach January 13-2016

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates