Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

TIẾNG VIỆT ĐA DẠNG

TRỜI TRONG VĂN THƠ BÁC HỌC
Nguyễn Hữu Phước

Nhiều bài bài nói về “trời” và chữ “thiên” trong văn thơ bác học.

Lý Thường Kiệt (1036-1105):
Hán Việt                                              Hán
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư               南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư          截然定分在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm             如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.           汝等行看取敗虛

Diễn giải: (Việt)
Vua nước Nam cư ngụ trên đất nước Nam
Đạo lý chính đáng nầy đã được ghi trong sách trời
Làm sao bọn giặc lại xâm lấn
Chúng giặc bây rồi đây sẽ thua bại.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

*Trời sinh trời ắt đã dành phần
Tu hãy cho hiền dạ có nhân
Chớ có hại nhân mà ích kỷ
Giấu người không giấu được Linh thần*.

Sách Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, (Trích bài *Có Phúc Có Phần: Thi ca cổ điển, Tập I, Bảo Vân). Theo Linh Mục Joseph Trương Kỷ (bút hiệu Đường Thi), bài trên trích ra từ Bạch Vân Thi Tập của Trạng Trình. Tác giả tin rằng Trời là Đấng Tạo Hóa, là Linh Thần cầm quyền sinh tử và dạy con người phải tu nhân tích đức.

Hồ Xuân Hương (?)
(Nữ sĩ sống đồng thời với Phạm Đình Hổ - 1768-1839)

Bà là một nhà thơ có lối thơ rất độc đáo: Thơ dùng nhiều từ ngữ mô tả cơ quan sinh dục và nhiều tiếng lái. Hầu hết là những tiếng lái tục khi hiểu nghĩa của tiếng lái. Nhưng điểm đặc biệt là bà cũng có dùng nhiều từ ngữ liên quan đến Trời, đấng Tạo Hóa và trời trong những gì liên quan đến “bầu trời xanh” khoảng không gian vô tận trên đầu chúng ta.

Bài Hang Thánh Hóa:
Khen thay Con tạo khéo khôn phàm,
Một đố giương ra biết mấy ngoàm,
Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp,
Lách khe nước rỉ mó lam nham.

Bài “Hang Cắc Cớ”:
Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt ra đôi mảnh hỏm hòm hom…
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!

Chợ Trời Chùa Thầy:
Hóa công xây đắp đã bao đời
Nọ cảnh Sài Sơn có chợ trời.

Bài “Đá Ông Chồng Bà Chồng”
Khéo léo bày trò Tạo Hóa Công
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng
Đá kia còn biết xuân già dặn
Chả trách người ta lúc trẻ trung.

Bài “Động Hương Tích”:
Bày đặt ai kia khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom,
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Khéo rõ Trời già đến dở dom.

Bài “Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường”:
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời,
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất,
Miệng túi càn khôn xếp lại rồi
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi!

Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

Nhà Nho Nguyễn Công Trứ dùng bài “hát nói” Chí Nam Nhi để diễn đạt quan niệm sống của giới Nho sĩ Việt Nam (giới có học) vào thời mà giới Nho gia có nhiều ảnh hưởng trong việc trị nước. Ông coi “nợ tang bồng” là một bổn phận cao quý Trời ban. Nho gia phải lo chu toàn trách nhiệm để đáp lại món nợ Trời cho nầy.

Thông minh nhất nam tử,
Yếu vi thiên hạ kỳ.
Trót sinh ra thì phải chi chi,
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu.
Đố kỵ sá chi Con Tạo,
Nợ tang bồng quyết trả cho xong.
Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung,
Làm cho rõ tu mi nam tử.
Trong vũ trụ đã đành phận sự,
Phải có danh mà đối với núi sông.
Đi không chẳng lẽ về không.

Theo linh mục Joseph Trương Kỷ trong quyển Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, Nguyễn Công Trứ tin vào Thiên Mệnh. Ông dùng những từ ngữ trong ca dao tục ngữ để nói về Trời như: “Tạo hóa, Hóa công, Ông Trời, Thợ Trời, Ông Xanh”.

Ngồi buồn mà trách Ông Xanh
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.

Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Đa số chữ trời trong thơ Ông nói về nghĩa thông thường như chữ trời trong bầu trời, trời xanh, trời cao v.v. Nhưng nhà thơ cũng nhắc đến Ông Trời trong nhiều bài thơ khác.

Bài Ông Phỗng Đá:
Người đâu tên họ là gì,
Khéo tay chít chít chi chi nực cười
Dang tay ngửa mặt lên trời
Hay còn lo tính sự đời chi đây.

Bài Thu Ẩm:
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Da trời ai nhuộm màu xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.

Trong bài Ông Trời, nhà thơ Nguyễn Khuyến, dùng khôi hài để nói lên về quyền lực của Trời qua ngôn từ bình dân “tao, tớ”.

Cao cao muôn trượng ấy là tao
Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào
Nhắn bảo dưới trần cho chúng biết
Tháng bảy tháng tám, tớ mưa rào.

Trong bài Vịnh Lụt, ông bàn về chuyện về Ông Trời:

Sửa sang việc nước cho yên ổn,
Trời đã sinh ta ắt có ta.

Bài Mừng Ông Nghè Mới Đỗ:

Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè
Chẳng đỗ thì Trời cũng chẳng nghe.

Trong bài Chơi Chợ Trời (t) Hương Tích:
Ai đi Hương Tích chợ trời đi!
Họp chợ quanh năm cả bốn thời.

Bài Than Mùa Hè:
Tháng tư đầu mùa hạ
Tiết trời thật oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.

Bài Khai Bút:
Một năm một tuổi Trời cho tớ,
Tuổi tớ Trời cho tớ lại càng

Bài “Đại Lão”:
Năm nay tớ đã bảy mươi tư,
Rằng lão rằng quan tớ cũng ừ,
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem Trời mãi thế nầy ư?

Bà Huyện Thanh Quan:

Tạo Hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Trời cũng luôn được nhắc đến trong nhiều tác phẩm văn thơ khác

Nhị Độ Mai:
Hóa Nhi* thăm thẳm ngàn trùng

*Từ ngữ nầy có nguồn từ thành ngữ Hán Việt “Tạo hóa tiểu nhi” lấy từ một điển tích có tính cách nói đùa của Trung hoa “Hóa nhi đa hí lộng”, Trẻ Tạo hóa thích đùa giỡn. Giống như trẻ con, ông Trời rất vô tư, không làm hại ai cả.

Cung Oán Ngâm Khúc
Trẻ Tạo Hóa đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.

Nguyễn Hữu Phước

Xem các phần khác:

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu qua emails:
- Ba “bạn trẻ - môn đệ” cựu học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức ghi ra và email cho chúng tôi một số khá nhiều những câu ca dao, thành ngữ liên quan đến Ông Trời: Huỳnh Công Lộc, Cao Nam Thiên, Nguyễn Quang Trung. Thành thật cảm ơn các bạn.
- Ngoài ra chúng tôi cũng cảm ơn một môn đệ TH KMTĐ đã giúp tôi sửa chánh tả nhữnh bài về Ông Trời, nhưng đồng ý ẩn danh.
- Bằng hữu Cao Tấn Võ, tác giả quyển Văn Phạm Việt Nam, giải thích giúp chúng tôi những bài thơ chữ Hán Việt, và rất nhiều buổi điện đàm về việc “thờ Trời” của dân Việt. Thành thật trân quý sự đóng góp của anh Cao Tấn Võ.

B. Internet: Bàn Ông Thiên, trích từ web internet Hình Bàn ông Thiên bằng cột gỗ, ván do Gs Trần văn Chi (trích từ internet) gởi đến chúng tôi. Thành thật cảm ơn sư Trần văn Chi đã sốt sắng gởi tài liệu về việc thờ cúng “Ông Thiên” – thờ cúng Ông Trời, của dân miền đồng bằng sông Cửu Long.

C. Sách
1. Đào Duy Anh (?). Hán Việt Từ Điển. Trương Thi XB, Sài Gòn Việt Nam.
2. Joseph Trương Kỷ, (2000).
Thiên Chúa Giáo Và Tam Giáo. Đường Thi xb. U.S.A.
3. Lê Thái Ất (2003). Văn Hóa Việt Nam. XB-Phát hành: Nguyễn Viết Đức, CA, USA.
2. Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ. 1970. Việt Nam Tự Điển. Nxb Khai Trí, Saigon, VN.
3. Phan Tấn Tài* (2005-8). “Ca Dao Miền Nam” Đặc San Đồng Nai-Cửu Long.
Nxb:Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Westminster California, USA.
Chú thích: *Những câu ca dao của Ts Phan Tấn Tài đã được trích từ những quyển sách sau đây, và những câu do Ts PTT ghi lại từ các bạn già khác.
Chúng tôi thành thành thật cảm tạ Ts Phan Tấn Tài, những bạn già, và những tác giả của những quyển sách liệt kê bên dưới.
[1] Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt nam, in lần thứ 8, 1977;
[2] Lư Nhất Vũ; Lê Giang; Lê Anh Trung: Hò Nam bộ (Vidéo), 1992;
[3] Lê Giang: Bộ hành với ca dao. NXB Trẻ, 2004;
[4] Ghi lại từ ký ức PTT&ĐTV;
[5] Hà Phương Hoài: Tự điển ca dao (www.vietnam-on-line.com; http://e-cadao.com);
[6] www.vietthings.com;
[7] Nguyễn Đăng Thục: Tư tưởng Việt Nam, NXB Khai Trí, 1964;
[8] Đoàn Thị Thu Vân: Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ.
(www.thoangsaigon.com);
[9] Ghi nhanh trong một buổi tọa đàm tại tư gia Gs Trần Văn Khê, 1973.

[Trở lại trang trước]

 

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates