Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

TIẾNG VIỆT ĐA DẠNG

NGUYỄN DU VÀ ÔNG TRỜI TRONG TRUYỆN KIỀU
Nguyễn Hữu Phước

Suốt Truyện Kiều của văn hào Nguyễn Du, Ông Trời, một đấng tạo hóa quyết định nhiều vấn đề liên quan đến con người nói chung, và ảnh hưởng đến các nhân vật trong truyện.

Trong phần kết luận Truyện Kiều, văn hào Nguyễn Du nói rất rõ ý nghĩ của ông về Ông Trời: Trời quyết định mọi chuyện của con người một cách công bằng.

Ngẫm hay muôn sự tại Trời (3241)
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào (3245)
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.

CHÚ THÍCH*** Từ sau đoạn nầy, khi quý độc giả thấy có con số ghi giữa 2 dấu ngoặc đơn, con số đó chỉ thứ tự số câu trong Truyện Kiều mà chúng tôi trích dẫn: (3241) (3245).Đó là những câu có chữ Trời (Ông Trời), hoặc trời (bầu trời, xa cách).

Đừng trách Trời không công bằng, mà hãy nghĩ đến hậu quả của những hành động do chính mình gây ra:

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
(3249 – 3254)

Từ ý chánh trên, chúng tôi sẽ lần lượt dẫn ra những câu liên hệ đến Trời (do chúng tôi viết chữ T hoa), đấng tạo hóa. Còn chữ trời trong nghĩa thông thường liên quan đến bầu trời, hay sự xa cách như “chân trời góc bể”, sẽ viết chữ t thường. Đây chỉ là quy ước mà thôi, chớ trong sách có khi không viết hoa mặc dù nói về Ông Trời.

Chúng tôi sẽ đi theo thứ tự của các diễn biến câu chuyện và các nhân vật theo sự phân chia Truyện Kiều ra 27 Phần của dịch giả Le Xuan Thuy, người đã dịch Truyện Kiều ra Anh văn. Tên dịch giả không có ghi dấu nên chúng tôi cũng không biết tên ông thực sự là gì. Mong dịch giả tha thứ. Chúng tôi nhờ vào phần diễn dịch mới hiểu thêm một số tiếng Việt xưa. Thành thật cảm tạ dịch giả Le Xuân Thuy.

Truyện Kiều và vài câu tiền đề của thi hào Nguyễn Du:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
...
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen (6).

Phần 1: Gia đình họ Vương gồm Ông/Bà Vương, Thúy Kiều, Thúy Vân, và Vương Quan.

Thúy Kiều:
Thông minh vốn sẵn tính Trời (29)
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

Phần 2: Anh em nhà họ Vương đi lễ Thanh minh (lễ tảo mộ vào tháng 3).

Cỏ non xanh tận chân trời (41)
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Thúy Kiều khi viếng mộ Đạm Tiên, thương cho số phận của Đạm Tiên:
Phũ phàng chi bấy Hóa Công (85)
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

Phần 3: Kiều gặp Kim Trọng.

Phong cảnh:
Tuyết in sắc ngựa câu dòn
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời (140)

Kim Trọng:
Nền phú hậu bậc tài danh
Văn chương nết đất, thông minh tính Trời. (150)

Phần 4 & 5: Số mệnh tương lai Kiều, và mật ước hôn nhân Kim Kiều.

Kim Trọng nghĩ rằng gặp gỡ Kiều là do duyên Trời:
Mừng thầm rằng chốn ấy chữ bài
Ba sinh âu hẳn duyên Trời chi đây (282).

Cách tường phải buổi êm trời (289)
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.

Kim Trọng trấn an Kiều khi Kiều nhắc đến số phần bạc mệnh của Đạm Tiên:
Sinh rằng giải cấu là duyên
Xưa nay nhân định thắng Thiên cũng nhiều (419).

Kim Trọng và Kiều thề dưới trăng:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời (449)
Đinh ninh hai miệng một lời song song.

Kiều bày tỏ về mình sau khi đàn cho Kim Trọng nghe:
Rằng quen mất nết đi rồi
Tẻ vui, thôi cũng tính Trời biết sao! (494)

Phần 6: KimTrọng ra đi xa vì nhà có tang.

Kim từ giã Kiều, nhắc Kiều hãy tự bảo trọng:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ “chân mây cuối trời”* (546)
*chỉ nơi xa xăm.

Phần 7: Thúy Kiều hy sinh bán mình chuộc cha (cha bị bắt oan do vu khống).

Kiều than vãn:
Mặt trông đau đớn rụng rời,
Oan nầy còn một kêu Trời, nhưng xa.(596)

Người cha đau lòng vì sự hy sinh của con, than thở:
Trời làm chi cực bấy Trời (659)
Này ai vu thác cho người hợp tan.

Kiều sẽ phải rời nhà theo Mã Giám Sinh (người đã “mua” Kiều) trong lòng đang nghĩ đến Kim:
Trời Liêu* non nước bao xa (703)
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tại tôi.
*Chữ Trời Liêu ở đây chỉ nơi xa xôi, nhưng phải viết hoa vì đứng đầu câu.

Thúy Vân hỏi thăm Thúy Kiều trước khi Kiều đi xa:
Cơ Trời dâu bể đa đoan (715)
Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cảnh trời trước khi Kiều từ giã gia đình ra đi:
Trời* hôm mây kéo tối rầm
Dàu dàu ngọn cỏ đầm đầm cành sương.
*theo lẽ “t” nhưng vì đầu câu nên dùng T.

Kiều sắp lọt vào tay Tú Bà, người cộng tác với Mã Giám Sinh. Bà là chủ lầu xanh chứa gái làng chơi:
Rủi may âu cũng sự Trời, (817)
Đoạn trường lại chọn một người vô duyên.

Mã Giám Sinh có ý dự định bán Kiều:
Miếng ngon kề đến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc, của Trời cũng tham. (832)

Thúy Kiều hy sinh bán mình chuộc cha
(cha bị bắt oan do vu khống).

Thân mẫu của Kiều nhận ra việc con bà bị gạt:
Vương bà nghe bấy nhiêu lời
Tiếng oan đã muốn vạch Trời kêu lên. (892)

Kiều sắp thực sự xa nhà:
Từ đây góc bể chân trời (899)
Nắng mưa thui thủi quê người chiếc thân.

Mai sau dầu đến thế nào
Kìa gương nhật (trời) nguyệt nọ đao quỉ thần. (906)

Trông vời gạt lệ phân tay
Góc trời thăm thẳm đêm ngày đăm đăm.(910)

Vi lô san sát hơi may
Một trời thu để riêng ai một người. (914)

Phần 8: Kiều trong bước đầu cuộc đời lưu lạc của mình

Sau khi lọt vào tay Tú Bà, và bị ép làm gái làng chơi, Kiều toan tự tử; nhưng mộng thấy Đạm Tiên hiện hồn về can ngăn:
Số còn nặng nghiệp má đào,
Người dầu muốn quyết Trời nào đã cho.(998)

Tú Bà dỗ dành bảo Kiều tiếp tục sống, may ra gặp người tốt. Kiều nhớ lại mộng do Đạm Tiên báo, nên hy vọng ở Trời:
Vả trong thần mộng mấy lời
Túc nhân âu cũng có Trời ở trong.(1018)

Tú Bà thề sẽ giữ lời hứa, nếu Kiều chịu tiếp tục sống sẽ để cho Kiều thong dong:
Mai sau chẳng ở như lời
Trên đầu có bóng mặt Trời rạng soi. (1049)

Tuy được tạm yên thân nhưng Kiều vẫn buồn cho cảnh biệt ly:
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gọt rửa bao giờ cho phai.

Phần 9: Sở Khanh nhắn lời hứa đem Kiều ra khỏi lầu xanh.

Sở Khanh tỏ vẻ thương tiếc đời Kiều:
Than ôi, sắc nước hương Trời (1065)
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây!

Sốt gan riêng giận Trời già (1069)
Lòng nầy ai tỏ cho ta hỡi lòng.

Kiều nhắn lời bằng lòng đi theo Sở Khanh và nhận được hồi âm:
Tan sương vừa rạng ngày mai
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.
Trời tây (trời chiều) lãng đãng bóng vàng (1085)
Phúc thư đã thấy tin chàng đến nơi.

Sở Khanh tìm cách đưa Kiều trốn khỏi tay Tú Bà, Kiều nghi ngờ nhưng không biết cách nào hơn:
Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Mà xem Con Tạo xoay vần đến đâu. (1116)

Cuộc trốn chạy đầy gian nguy, và rốt cuộc bị Tú Bà bắt lại đánh đập:
Hóa nhi thật có nỡ lòng (1129)
Làm chi dày tía vò hồng lắm nau!
Một đoàn đổ đến trước sau
Vuốt đâu xuống đất cánh đâu lên trời. (1132)

Sở Khanh trở mặt la rầy hỏi tại sao Kiều trốn, Kiều chỉ biết kêu than:
Nàng rằng Trời nhé có hay? (1179)
Quyến anh rủ yến sự nầy tại ai.

Phần 10: Cuộc đời Kiều xuống dốc. Tú Bà dạy Kiều nghề rước khách, và buộc nàng phải hành nghề mãi dâm, cuộc đời nhục nhã, chìm trong tay khách làng chơi.

Nàng nhớ cha mẹ:
Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.

Nàng nhớ Kim Trọng:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có biết tình chăng ai.

Phần 11,12, 14,15, 16, 17, 18, 19 : Thúc Sinh hâm mộ Kiều, muốn đem Kiều về làm hầu thiếp, nhưng sợ vợ lớn là Hoạn Thư làm khổ Kiều vì ghen.

Kiều tỏ vẻ lo lắng:
Trăm điều ngang ngửa vì tôi
Thân sau ai chịu tội Trời ấy cho. (1346)

Kiều muốn Thúc nói thật với Hoạn thư trước khi đem Kiều về nhà làm hầu thiếp:
Hơn điều giấu ngược giấu xuôi
Lại mang những việc tày trời đến sau. (1514)

Nhưng Hoạn thư biết hết mọi chuyện, bắt Kiều về hành hạ đủ điều, kể cả việc buộc Kiều làm một nữ tu coi một ngôi chùa nhỏ. Cuộc sống của Kiều và Thúc Sinh gặp nhiều hoàn cảnh éo le.

Phần 20: Cuối cùng Kiều trốn khỏi tay Hoạn Thư, nhưng lại gặp Bạc bà, một mụ tú bà khác, cuộc đời tiếp tục truân chuyên.

Nàng bị đem bán một lần nữa cho Bạc bà. Bà nầy thu xếp cho người cháu “cưới” Kiều.
Chứng minh có đất có Trời (2125)
Bây giờ vượt bể ra khơi quản gì.

Nhưng rồi sau đó tên nầy lại bán Kiều một lần nữa. Kiều biết rõ sự tình, ngán ngẩm cho cuộc đời bạc phận của mình:
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Tài tình chi lắm cho Trời đất ghen. (2154)
...
Đầu xanh đã tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.
Biết thân chạy chẳng khỏi Trời (2163)
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Phần 21: Kiều và Từ Hải

Từ Hải một người hùng;
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài
Đội Trời đạp đất ở đời (2171)
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.

Từ Hải nghe Kiều, có tài thi họa và đối đáp nên đến “lầu hồng” tìm gặp nàng. Đôi bên hiểu tâm sự nhau nên Từ Hải điều đình đem Kiều về tư dinh. Chàng và nàng tâm đầu ý hợp, đầm ấm bên nhau được nửa năm. Từ Hải phải lên đường chinh chiến. Kiều muốn cùng đi, nhưng nghe lời khuyên của Từ Hải, nên ở lại nhà chờ đợi chàng.

Trông vời trời bể mênh mang (2215)
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng xông.

Kiều chờ đợi một thờ gian dài:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. (2248)

Từ Hải thành công lớn trong chiến trận, trở về huy hoàng mội cõi, sống hạnh phúc với Kiều:
Vinh hoa bỏ lúc phong trần
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.

Phần 22: Công lý của Kiều là oán trả, ơn đền.

Kiều thuật lại cuộc đời khổ nhục của mình. Từ Hải nổi giận, ra lệnh tuyển binh tướng đi bắt tất cả những người đã ban ơn cho Kiều, cũng như những ai làm khổ làm nhục Kiều, đem về giao cho Kiều phân xử.

Đạo Trời báo phục chỉn ghê (2309)
Khéo thay một mẻ tóm về đầy nơi.

Tuy Hoạn thư làm khổ nàng và Thúc sinh (chồng của Hoạn thư, và là người mà Kiều cũng thương) trong nhiều hoàn cảnh éo le, Kiều tha Hoạn Thư vì thông cảm cho nổi khổ của người vợ chánh. Nhưng những người buôn bán gái nhà lành và bắt họ hành nghề mãi dâm để làm giàu như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Khuyển Ưng, Sở Khanh đều bị xử tử. Kiều biện minh cho quyết định của mình:

Nàng rằng lồng lộng Trời cao (2381)
Hại nhân nhân hại sự nào tại ta.
. . .
Cho hay muôn sự tại Trời, (2391)
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta.

Kiều tin theo thuyết “tiền định”: Trời định trước vận mệnh của Kiều:
Mới hay tiền định chẳng lầm (2409)
Đã tin điều trước ắt nhằm* điều sau.
*đúng
. . ..
Nàng rằng “tiền định” tiên tri (2413)
Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai.

Kiều cảm tạ Từ Hải cho Kiều cơ hội đền ơn trả oán:
Khắc xương ghi dạ xiết chi
Dễ đem gan óc đền nghì Trời mây. (2426)

Phần 23: Cái chết của Từ Hải. Triều đình chiêu dụ Từ Hải. Kiều khuyên Từ Hải lảnh nhận quan chức và về với Triều đình. Từ Hải nghe theo. Nhưng quân Triều đình do Hồ Tôn Hiến cầm đầu thừa cơ đánh ập.

Từ Hải bị truy sát:
Ầm ầm sát khí ngất trời ai đang. (2524)

Từ Hải chết giữa muôn tên nhưng thây vẫn đứng trơ.
Trong vòng tên đá bời bời
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.(2528)

Mãi đến khi Kiều phủ phục dưới chân mình, xác Từ Hải mới ngã xuống.
Khóc rằng “trí dũng có thừa
Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này!
. . .
Lạ thay oan khí tương triền
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra.

Hồ Tôn Hiến hỏi Kiều có muốn yêu cầu gì? Kiều trả lời:
Rằng Từ là đấng anh hùng
Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi.(2550)
. . .
Năm năm trời biển ngang tàng (2555)
Dẫn mình đi bỏ chiến tràng như không.

Phần 24: Kiều tự tử.

Hồ Tôn Hiến mở tiệc khao quân, bắt Kiều đờn cho ông nghe. Khúc đàn bạc mệnh quá buồn làm ông rơi lệ. Suýt chút nữa là ông đem Kiều về hầu ông. Nhưng rồi gả nàng cho người thổ quan. Người nầy dùng thuyền chở Kiều về quê của anh ta.

Kiều nhớ đến cha mẹ không biết sống chết ra sao:
Chân trời mặt bể lênh đênh (2607)
Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào.

Cơ Trời đưa đẩy, thuyền đi về phía sông Tiền Đường, Kiều nhớ lời thần mộng rằng nàng sẽ hết kiếp đoạn trường ở đây:
Cửa bồng vội mở rèm châu
Trời (trời) cao sông rộng một màu bao la.(2628)

Kiều nhảy xuống sông tự tử:
Thôi thì một thác cho rồi
Tấm lòng phó mặc trên Trời dưới sông. (2634)

Nguyễn Du trách Ông Trời:
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay
Trời làm chi đến lâu ngày càng thương.(2648)

Phần 25: Kiều được cứu sống, được rút tên ra khỏi sổ đoạn trường. Từ đây về sau sẽ sum hop gia đình và sống yên vui.

Sư Giác Duyên là người biết rõ cuộc đời trôi nổi của Kiều:
Sư rằng phúc họa đạo Trời, (2655)
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có Trời mà cũng có ta, (2657)
Tu là cội phúc tình là dây oan.

Sư nghĩ rằng tình nghĩa thâm sâu của Kiều với cha mẹ, đã động lòng Trời:
Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến Trời. (2684)

Đã đến lúc Trời giúp cho Kiều:
Khi nên Trời cũng chiều người,(2869)
Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.

Sư Giác Duyên thả bè lau ở sông Tiền Đường để cứu Kiều, và đem Kiều về nuôi.
Trước sau cho vẹn một lời
Duyên ta mà cũng phúc Trời chi không? (2694)

Trong lúc Kiều còn chưa tỉnh, mặc dầu đã được sư Giác Duyên cứu, nghe hồn Đạm Tiên nói là đã chờ Kiều ở đây 15 năm rồi và cho hay là tên Kiều đã được rút ra khỏi sổ đoạn trường:
Tâm tình đã thấu đến Trời (2717)
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
. . .
Đoạn trường sổ rút tên ra (2721)
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau. (2722)

Phần 26: Kim tìm Kiều. Kim và Vương Quan được làm quan.

Xin nhắc lại trong phần 6, Kim Trọng phải rời nơi cư trú gần nhà Kiều về chốn xa vì có tang trong gia đình. Khi trở lại, Kim tìm hỏi gia đình họ Vương và việc Kiều bán mình chuộc cha. Kiều đã biệt tăm cả nhà không ai biết.

Người một nơi hỏi một nơi
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao. (2830)

Kim cho nhiều người đi tìm nhiều nơi nhưng không tìm ra khiến Kim càng sầu lo.
Vương Ông/Bà cho Thúy Vân thay chị, làm đám cưới với Kim Trọng. Dù Vậy Kim vẫn buồn nhớ Kiều.

Vài năm sau, Kim Trọng và Vương Quan cùng thi đậu:
Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày. (2860)
Cửa Trời rộng mở đường mây (2861)
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.

Kim cho điều tra manh mối về sự lưu lạc của Kiều, kể cả việc Từ Hải:
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm nên động địa kinh Thiên đùng đùng.(2094)

Kim rất buồn khổ cho thân phận nàng, ngao ngán cho sự đời:
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu (2943)
Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn.

Kim được đổi về nhậm chức ở Nam Bình, Vương Quan về trấn nhậm Phú Dương:
Năm nay bỗng thấy chiếu Trời* (2947)
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
(*Vua được xem là Thiên tử hay con Trời. Chiếu Trời là lệnh của vua.)

Phần 27: Kim Trọng gặp lại Kiều

Kim và Vương Quan tiếp tục tìm Kiều và cuối cùng Kiều sum họp với gia đình họ Vương kể cả Kim Trọng. Thúy Vân giải thích với Kiều về việc kết hôn với Kim:

Rằng trong tác hợp cơ Trời (3063)
Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
Gặp cơn bình địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.

Kim nhắc lại lời thệ ước xưa với Kiều:
Một lời đã trót thâm giao
Dưới dày có đất, trên cao có Trời.(3086)

Kim Kiều đối thoại suốt đêm, cả hai nhắc lại kỷ niệm xưa. Nhưng Kiều quyết tâm từ khước vì cuộc đời sương gió lưu lạc của nàng:
Trời còn để có hôm nay (3121)
Tan sương đầu ngõ vén mây cuối Trời. (3122)

Nguyễn Du và những ý tưởng về Trời trong phần cuối của Truyện Kiều:

Ngẫm hay muôn sự tại Trời (3241)
Trời kia đã bắt làm người có thân.(3242)
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.
Có tài đừng cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa*.(3250)
* Trời không công bằng.

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời quê chắp nhặt dong dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.(3254)

Qua những câu cuối của Truyện Kiều, những câu kết luận, chúng ta nhận ra thi hào Nguyễn Du tin vào thuyết Thiên Mệnh: mọi việc trên đời đều do sự sắp đặt của Trời.

Chúng tôi xin ghi nhận lại một lần nữa những khía cạnh của câu chuyện trong Truyện Kiều liên quan đến chữ Trời, vị sáng lập ra muôn loài, và sự liên hệ giữa số phận con người và TRỜI để thấy rõ mực độ mà thi hào Nguyễn Du tin vào thuyết Thiên Mệnh hay Mệnh Trời.

Ông dùng 5 từ ngữ để nói về Ông TRỜI, trong đó từ ngữ Trời (viết hoa) được dùng nhiều nhất***:

Hóa Công (85),
thắng Thiên (419), kinh Thiên (2094),
Con Tạo (1116)
Hóa nhi (1129), và chữ Trời***

***Trời xanh (6); tính Trời (29, 150, 494 ); duyên Trời (282); kêu Trời (596); Trời làm chi cực bấy Trời (659); Cơ Trời đa đoan (715); tác hợp cơ Trời (3063); sự Trời, (817); của Trời (832); vạch Trời (892); Trời nào đã cho.(998); có Trời ở trong(1018); mặt Trời rạng soi. (1049); sắc nước hương Trời (1065); giận Trời già (1069); Trời nhé có hay? (1179); ai chịu tội Trời (1346); có đất có Trời (2125); Trời đất ghen. (2154); chạy chẳng khỏi Trời (2163); Đội Trời đạp đất (2171); Đạo Trời báo phục (2309); Trời cao (2381); muôn sự tại Trời, (2391); tiền định chẳng lầm (2409); phó mặt trên Trời (2634); Trời làm chi (2648); phúc họa đạo Trời, (2655); Có Trời mà cũng có ta (2657); hiếu tâm đến Trời. (2684); Trời chiều người (2869); phúc Trời(2694); thấu đến Trời (2717); Cửa Trời rộng mở (2861); chiếu Trời* (2947); trên cao có Trời (3086); Trời còn để có hôm nay (3121); vén mây cuối Trời. (3122); Ngẫm hay muôn sự tại Trời (3241); Trời kia đã bắt làm người có thân (3242); Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa (3250)***.

Nguyễn Hữu Phước

Xem các phần khác: 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu qua emails:
- Ba “bạn trẻ - môn đệ” cựu học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức ghi ra và email cho chúng tôi một số khá nhiều những câu ca dao, thành ngữ liên quan đến Ông Trời: Huỳnh Công Lộc, Cao Nam Thiên, Nguyễn Quang Trung. Thành thật cảm ơn các bạn.
- Ngoài ra chúng tôi cũng cảm ơn một môn đệ TH KMTĐ đã giúp tôi sửa chánh tả nhữnh bài về Ông Trời, nhưng đồng ý ẩn danh.
- Bằng hữu Cao Tấn Võ, tác giả quyển Văn Phạm Việt Nam, giải thích giúp chúng tôi những bài thơ chữ Hán Việt, và rất nhiều buổi điện đàm về việc “thờ Trời” của dân Việt. Thành thật trân quý sự đóng góp của anh Cao Tấn Võ.

B. Internet: Bàn Ông Thiên, trích từ web internet Hình Bàn ông Thiên bằng cột gỗ, ván do Gs Trần văn Chi (trích từ internet) gởi đến chúng tôi. Thành thật cảm ơn sư Trần văn Chi đã sốt sắng gởi tài liệu về việc thờ cúng “Ông Thiên” – thờ cúng Ông Trời, của dân miền đồng bằng sông Cửu Long.

C. Sách
1. Đào Duy Anh (?). Hán Việt Từ Điển. Trương Thi XB, Sài Gòn Việt Nam.
2. Joseph Trương Kỷ, (2000).
Thiên Chúa Giáo Và Tam Giáo. Đường Thi xb. U.S.A.
3. Lê Thái Ất (2003). Văn Hóa Việt Nam. XB-Phát hành: Nguyễn Viết Đức, CA, USA.
2. Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ. 1970. Việt Nam Tự Điển. Nxb Khai Trí, Saigon, VN.
3. Phan Tấn Tài* (2005-8). “Ca Dao Miền Nam” Đặc San Đồng Nai-Cửu Long.
Nxb:Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Westminster California, USA.

Chú thích: *Những câu ca dao của Ts Phan Tấn Tài đã được trích từ những quyển sách sau đây, và những câu do Ts PTT ghi lại từ các bạn già khác.
Chúng tôi thành thành thật cảm tạ Ts Phan Tấn Tài, những bạn già, và những tác giả của những quyển sách liệt kê bên dưới.
[1] Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt nam, in lần thứ 8, 1977;
[2] Lư Nhất Vũ; Lê Giang; Lê Anh Trung: Hò Nam bộ (Vidéo), 1992;
[3] Lê Giang: Bộ hành với ca dao. NXB Trẻ, 2004;
[4] Ghi lại từ ký ức PTT&ĐTV;
[5] Hà Phương Hoài: Tự điển ca dao (www.vietnam-on-line.com; http://e-cadao.com);
[6] www.vietthings.com;
[7] Nguyễn Đăng Thục: Tư tưởng Việt Nam, NXB Khai Trí, 1964;
[8] Đoàn Thị Thu Vân: Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ.
(www.thoangsaigon.com);
[9] Ghi nhanh trong một buổi tọa đàm tại tư gia Gs Trần Văn Khê, 1973.

[Trở lại trang trước]

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates