Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

NĂM ĐINH DẬU VIẾT CHUYỆN VỀ GÀ

I. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH ĐÔNG PHƯƠNG: THẬP CAN & THẬP NHỊ CHI

Đinh Dậu là con gà rừng
Có mỏ có mồng hay gáy ó o.

Theo cách tính của Đông phương, năm được đặt tên theo mười can (thập can): Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí; và mười hai chi (thập nhị chi): Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, và Hợi. Con Gà chiếm hàng thứ 10 trong “thập nhị chi”. Mỗi chi còn đi chung với một “can” trong “thập can” bên trên. Năm 2014 dương lịch là năm Giáp Ngọ âm lịch. Năm 2015, là năm Ất Mùi; năm 2016 có tên Bính Thân, và năm tới 2017 mang tên Đinh Dậu.

Cứ tiếp tục theo thứ tự của mười can từ “Giáp” cho tới “Quý” thì “mỗi mười năm có một năm bắt đầu bằng chữ “Giáp”. Theo theo thứ tự của mười hai chi thì “mỗi mười hai năm mới có một năm Dậu”. Mẫu số chung của 10 và 12 là 60. Vậy phải sáu mươi năm sau (2077) mới có một năm “Đinh Dậu” nữa. Nếu tính ngược lại thì năm 1957 là năm “Đinh Dậu”. Để dễ nhớ, một tác giả vô danh đã làm ra bài thơ sau đây :

Mậu Tý con chuột cống lang
Hay tha trứng vịt xuống hang bỏ rày.
Kỷ Sửu con trâu kéo cày
Ngoài đồng hai buổi ăn rày cỏ khô.
Canh Dần con cọp ngoài rừng
Tiếng kêu vang lừng hay chụp bắt heo.
Tân Mão là con mèo ngao
Hay kêu hay gào hay khóc hay than.
Nhâm Thìn là con rồng vàng
Những khi cần nước Ngọc Hoàng sai đi.
Quý Tỵ con rắn rằn ri
Ở dưới mương lạn mấy khi lên bờ.
Giáp Ngọ con ngựa chạy mờ
Nó đi một buổi mười giờ không sai.
Ất Mùi con dê râu dài
Cái đuôi ngúc ngoắc, cái đầu có chông.
Bính Thân con khỉ rừng vong
Cái đít chai ngắt, đầu không có sừng.
Đinh Dậu là con gà rừng
Có mỏ có mồng hay gáy ó o.
Mậu Tuất là con chó cò
Hay nằm cạnh lò lỗ mũi lọ lem.
Kỷ Hợi con heo ăn hèm
Mấy khi cúng tế chả nem đủ dùng.

II. ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỮ GÀ

Gà là thuộc về loài chim. Gà có lông mao lúc nhỏ, và lông vũ lúc lớn; và có hai cánh. Gà mái có mồng thấp, đẻ trứng và ấp trứng cho đến khi trứng nở ra gà con. Gà trống mồng cao, tích dài màu đỏ; bộ lông thường có nhiều màu sặc sỡ; chân có có cựa dài và nhọn, có tánh háo chiến thích đá nhau với những gà trống khác. Gà là một gia súc rất phổ thông của dân Việt. Ngôn ngữ Việt có nhiều từ ngữ liên hệ đến gà.

1. Vài câu ca dao về gà mang địa danh lịch sử:

Gà nào hay cho bằng gà Cao Lãnh*
Gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân**

*Cao Lãnh: Tên tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Phong vùng Đồng Tháp Mười.
** Nha Mân là tên một làng nhỏ nằm ven Tiền Giang, thuộc quận Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Có lời tương truyền rằng lúc chúa Nguyễn Ánh lưu lạc nhiều nơi ở miền đồng bằng Cửu Long để tránh sự theo đuổi của nhà Tây Sơn.

Theo tác giả Đại Trí trong bài “Gái Nha Mân” (https://vi-vn.facebook.com/notes) trên Google web thì tác giả ghi lại lời của một cụ già suốt đời sống ở Nha Mân. Cụ già kể lại như sau:

Con gái Nha Mân chúng tôi đẹp cũng là có lý do chứ không đơn thuần chỉ do đồn đại. Theo sử sách, cách đây chừng 250 năm, chúa Nguyễn Ánh (sau này là Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn) đã cầu viện quân Xiêm (Thái Lan) sang giúp để chống lại nhà Tây Sơn. Và, một trận thủy chiến kịch liệt ở sông Tiền, đoạn từ vùng Mỹ Tho tới Rạch Gầm - Xoài Mút đã diễn ra. Kết quả, chính sử đã ghi rõ, quân Xiêm thua tan tác phải bỏ chạy về nước còn chúa Nguyễn Ánh cũng dẫn theo tùy tùng ngược sông Tiền tìm cách trốn đi. Khi đến Nha Mân, do quân của Nguyễn Huệ truy đuổi ác liệt quá bèn bỏ hết “đội quân” cung tần, mỹ nữ hàng trăm người lại để “nhẹ gánh chinh phu” với lời hứa, sau này làm nên sự nghiệp sẽ quay lại đón rước mọi người.

Những mỹ nữ này đều là những người con gái nhan sắc tuyệt trần được Nguyễn Ánh tuyển chọn khi ấy, đã lập gia đình với những chàng trai người bản địa. Truyền rằng, các thế hệ sau, con trai không nói chứ nếu là con gái, ai sinh ra cũng đẹp như Ngọc Nữ, Hằng Nga. Thêm nữa, do nơi đây là vùng đất nằm giữa hai bờ sông Tiền, sông Hậu, khí hậu ôn hòa, mát mẻ, sông nước êm đềm cũng là một phần tạo nên vẻ đẹp nhan sắc cho những người con gái này.

Trải qua mấy trăm năm, bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc, bao nhiêu biến động của cả một vùng đất nhưng nhan sắc và vẻ đẹp mặn mà của người con gái Nha Mân thì dường như mãi mãi không bao giờ phai nhạt, dù những phi tần mỹ nữ ngày xưa chỉ còn trong cổ tích. Nay, ở Nha Mân, mười người con gái thì có đến chín người đẹp còn người kia cũng sắc nước hương trời. Dường như, khi những mỹ nữ cung tần biến thành những nông dân hiền lành chất phác, nhan sắc của họ càng tươi thắm mặn mà hơn, lưu truyền mãi cùng thời gian.

Gió đưa cành trúc la đà*
Tiếng chuông Thiên Mụ** canh gà Thọ Xương**

*Vũ Quốc Thúc “Gió Đưa Cành Trúc La Đà” Bài đăng trên internet và trên nhật báo Saigon Nhỏ ngày 7 tháng 5, 2013.
**Theo giáo sư Vũ Quốc Thúc thì 4 chữ “canh gà Thọ Xương” có nguồn gốc trong bài thơ tứ tuyệt sau đây:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ*, canh gà Thọ Xương*,
Mịt mù bãi cát màn sương,
Nhịp chày Yên Thái*, bóng gương Tây Hồ*.

Theo giáo sư Thúc thì “Cả bốn địa danh này đều thuộc một khu vực chung là vùng tây cố đô Thăng Long, tức Hà Nội cũ”. Chùa Trấn Vũ là một thắng cảnh nằm trên đường Cổ Ngư. Thọ Xương là tên cũ của một huyện sát thành Thăng Long, trên bờ Hồ Tây”. Còn “làng Yên Thái chuyên nghề làm giấy bản”.

Giáo sư Thúc còn ghi thêm trong cùng bài bốn câu ca dao khác có nói đến canh năm gà gáy:

Trống canh năm gà vừa gáy sáng,
Bừng mắt dậy trời đã rạng đông!
Ngắm phong cảnh đẹp vô cùng:
Hỏi ai thêu dệt? Ấy Ông Thợ Trời!

Giáo sư Dương Ngọc Sum (nhà văn Dương Tử) cũng có viết bài “Xin được góp ý về bài Gió Đưa Cành Trúc La Đà của Gs Vũ Quốc Thúc”. Gs Dương Tử viết “Phải công nhận rất hiếm khi chúng ta được đọc bài viết về văn học văn hóa của một chuyên viên kinh tế”. Dương tử xác nhận rằng 4 câu ca dao trong bài với câu Tiếng chuông Trấn Vũ chắc chắn là phát sinh từ miền Bắc. Nhưng câu ca dao Tiếng chuông Thiên Mụ là phát xuất từ miền Trung, vì có nhiều câu ca dao khác liên quan đến các địa danh gần Huế.

Chúng tôi, tác giả bài báo xuân nầy xin đồng ý với Gs Dương Tử. Huế có chùa Thiên Mụ và cũng có địa danh Thọ Xương. Vùng nầy ngày xưa chuyên sản xuất vôi. Ca dao có câu thề:

Bao giờ Long Thọ hết vôi
Đồng Nai hết nước anh thời mới quên em.

Một câu khác làm ví dụ:
Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi.

Chúng tôi còn có nghe mấy anh bạn già, hiện tại (2016) trên dưới tám mươi vài tuổi có nhắc câu ca dao sau đây, vào thời chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, cạnh nữ trung học Gia Long, bị vây và bị xét vào năm 1963 (lúc đó mấy bạn nầy vào khoảng 25 tuổi):

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Xá Lợi canh gà Thủ Thiêm.

Trong một buổi họp mặt tân niên Gò Công, vài ông “tám mươi tuổi xanh” ngồi nói chuyện về văn thơ, và đồng ý dành câu ca dao “canh gà” về phần Gò Công”

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thanh Trước** canh gà Gò công.

*Chùa Thanh Trước, (xưa có tên là Phật Linh) thuộc ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Ngoài ra cách đây vài năm, chúng tôi có viết bài về những con Rồng nhà Nguyễn cưới vợ ở miền Đồng Nai-Cửu Long. Vua Thiệu Trị (1841-1847) có “Đệ nhất Giai Phi (chánh cung) tên Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ); và vua Bảo Đại chánh cung tên Nguyễn Hữu Thị Lan. Bà nầy là người chánh cung duy nhất trong lịch sử triều Nguyễn được vua Bảo Đại phong làm Nam Phương Hoàng Hậu**. Cả hai bà chánh cung nầy là dân Gò Công.

(**Năm điều cấm do Vua Gia Long (1802-1820) - Thái Tổ của Nhà Nguyễn - đưa ra, mà các vua nhà Nguyễn, kể cả vua Minh Mạng (1820-1840), không được làm là: phong Hoàng hậu, lập Thái tử, phong Vương tước, phong Tể tướng, và phong Trạng nguyên. Theo học giả Trần Gia Phụng, những “điều cấm” đó được gọi chánh thức trong sử sách là lệ “ngũ bất lập” hay năm điều không được lập. Vì vua Gia Long không có ký văn kiện hay ra chiếu chỉ gì cả nên sử gọi “lệ” nầy của nhà Nguyễn là “quy ước bất thành văn”. Chỉ có vua Bảo Đại không tuân theo”ngũ bất lập” nầy).

Ngoài ra, Gia đình Rồng nhà Nguyễn còn có vua Minh Mạng, con vua Gia Long và là cha của vua Thiệu Trị, có “Đệ nhất Giai Phi” tên Hồ Thị Hoa dân miền Nam. Nói khác đi có 3 bà chánh cung là dân Miền đồng bằng Cửu Long (ĐBCL). Đó là chưa kể 5 bà thứ phi khác cũng được tuyển chọn từ ĐBCL.

Do đó câu ca dao:

Kim Long (hay Kim Luông) có gái mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi.

Chúng tôi đề nghị đổi lại như sau cho đúng với thực tế lịch sử:

Cửu Long có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm cưới, trẫm yêu suốt đời.

Chính Vua Bảo Đại viết: “Trong triều đình nhà Nguyễn, việc tìm kiếm phi tần cho vua thường thường hướng vào miền Nam, so với miền Trung hay xa hơn nữa là miền Bắc, đối với triều Nguyễn miền Nam là miền đất hứa.” (Bảo Thái, trích trong “Con Rồng Việt Nam” của Bảo Đại).

Những câu ca dao khác về gà:

Con gà tốt mã vì lông
Con công tốt mã vì mong cặp bồ.

Nửa đêm gà gáy ó o
Chú rể thức giấc tay mò cô dâu.

Máu gà thì tẩm xương gà
Máu gà đem tẩm xương ta sao đành.

Gà què ăn quẩn cối xay,
Hát đi hát lại tối ngày một câu.

Gà cồ ăn quẩn cối xay,
Hát bảy tám ngày không hết một câu.

Tóc em dài anh về nuôi gà mái
Cắt tóc rồi anh bán gà mái nuôi heo

Ai ai rồi cũng phải già*
Ngồi trên nóc tủ** nhìn “gà khỏa thân”***

*Già hay chết; ** Hình để trên tủ thờ;
*** “nguyên con gà luộc” do con cháu để lên bàn thờ cúng.

Gà lạc bầy, gà kêu lạc tiếng,
Phụng lìa loan, phụng lại biếng bay,
Xa em từ mấy bữa rày,
Cơm ăn không đặng, áo gài hở bâu.

2. Một số thành ngữ, tục ngữ về gà nói chung, hoặc về gà mái

“Gà mất mẹ”: Chỉ đàn con còn nhỏ mất mẹ (sẽ rất bơ vơ) không ai hướng dẫn đi kiếm ăn. Câu nầy áp dụng cả cho hoàn cảnh gia đình con người, không may người mẹ mất sớm các con sẽ rất bơ vơ; người cha sẽ chịu cảnh “gà trống nuôi con”.

“Gà con nhúng nước”: chỉ cảnh sợ sệt ; vì gà, nhất là gà con rất sợ nước.

“Gà mở cửa mả”: Chỉ trạng thái ngơ ngác khờ khạo giống như con gà khi đem nó theo dùng vào lễ mở cửa mả: Nó được thả ra, ngơ ngác giữa đám đông người, xen giữa tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng tụng kinh trong buổi lễ mở cửa mả.

“Kê bì hạc phát”: Da gà tóc hạc, chỉ việc già nua da nhăn tóc bạc.

“Kê minh khuyển phệ”: Gà gáy chó sủa, ý nói rằng khi làm tôi tớ cho người khác, cứ làm đủ bổn phận thôi theo ý chủ, không nên cho ý kiến riêng của mình vào việc của chủ mình.

“Gà đẻ gà cục tác, ác đẻ ác la”:
Nghĩa đen là tính trời sanh sau khi gà mái đẻ trứng, nó cất tiếng kêu “cục tác”. Hai chữ “cục tác” là cái âm của tiếng gà mái kêu, viết bằng tiếng Việt (cũng như cái âm tiếng gáy của gà trống là “ò ó o”). Nghĩa bóng: Trong một đám đông, người nào đứng ra trước để phanh phui một chuyện xấu hay một chuyện mờ ám thì phần lớn chính người đó là người gây ra chuyện xấu đó.

“Gà mái gáy gở” hay “Kê báo tai, thước báo hỉ”: Gà mái gáy là sắp có tai ương, quạ reo là sắp có chuyện vui. Thành ngữ chỉ một chuyện không thể xảy ra vì gà mái không biết gáy, quạ không biết reo.

“Gà nhà bôi mặt đá nhau”: Anh em cùng nhà, người cùng đoàn thể, vì quyền lợi riêng tư hại nhau không kể gì đến quyền lợi chung của tập thể mình.

“Gà đẻ trứng vàng”: Mối lợi vào ít, chậm, nhưng liên tục như gà đẻ trứng. Nếu biết bền chí thì liên tục có lợi tức. Thành ngữ nầy bắt nguồn từ chuyện ngụ ngôn của một người Pháp tên Jean de La Fountaine: Có một con gà kia mỗi ngày đẻ ra một trứng vàng. Chủ nhân nó nghĩ rằng trong bụng nó có nhiều vàng, bắt nó và mổ bụng nó ra vì tham muốn lấy ngay số vàng trong bụng nó. Nhưng không có gì cả. Con gà chết.

3. Một số thành ngữ, tục ngữ về gà trống và tiếng gáy:

“Kê quần hạc lập”: Con hạc đứng giữa bầy gà; ý nói người tài cao ở giữa nhóm người bình thường.

“Gà cồ (gà trống) ăn quẩn cối xay”: chỉ người đàn ông hay hiếp đáp người hàng xóm, không dám đối phó với người xa lạ.

“Gà trống nuôi con”: Người mẹ trong gia đình vì một lý do gì đó không thể lo trực tiếp những phần việc nuôi con của mình, và người cha phải gánh vác luôn những việc ấy.

“Gà người gáy, gà ta sống”; hoặc “Gà ta gáy, gà mình cũng đập cánh”: chỉ việc người nầy muốn tranh đua với người kia, thì người kia cũng tìm cách đua tranh đua lại, không chịu lép vế.

“Gà trống ghét tiếng gáy”: Gà trống khi nghe tiếng gáy của một con gà khác thì tìm đến để đá nhau**.
**Phần tiếp sau sẽ có đoạn nói về phong tục đá gà ở Việt Nam và luật lệ về cockfighting ở California và ở Hoa Kỳ nói chung.

“Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Có người tìm cách hạ người khác hay loại người khác ra khỏi cuộc làm ăn chung vì người kia khoe khoang, tự hào quá đáng.

“Gà chết vì tiếng gáy”: a. Nghĩa đen, giống giải thích bên trên, khi đá nhau có bị thương có thể chết. b. Nghĩa bóng, chỉ con người có thể bị hại do lời khoe khoang, phách lối của chính mình (khiến người khác ghen ghét).

4. Các loại gà có tên quen thuộc ở Việt Nam

Gà ác hay gà ri: Loại gà nhỏ con, lông trắng có xen lông đen, mặt màu đỏ tươi, dáng đi nhnh nhẹn.
Gà cỏ: Loại gà rừng nhỏ con. Thành ngữ: Gà cỏ quay mỏ về rừng.
Gà chuối: Gà có lông toàn màu trắng. Chúng ta có: Ngựa kim hay ngựa bạch, gà chuối, chó cò, tất cả đều màu trắng.
Gà ô: Gà lông đen. Chúng ta còn có mèo mun, chó mực, ngựa ô, bò hóng, tất cả đều màu đen.
Gà điều và gà kiến: Gà có lông màu đỏ. Lông của gà kiến có màu đỏ “cánh kiến”.
Gà lôi hay gà tây: turkey, loại gà mà dân Hoa kỳ dành dùng làm món ăn chánh trong ngày giáng sinh.
Gà nòi: Loại gà có trọng lượng tương đối nhẹ, ít lông, đá nhau rất hăng nên được nuôi đặc biệt làm gà chọi.
Gà rừng: Gà hoang sống trong rừng, có thể bay được một đoạn đường ngắn. Gà trống rừng rất háo chiến.
Gà sao: gà màu xám có đốm đen.
Gà tàu: Loại gà thông dụng vì nặng cân và thịt ngon.
Gà tre: Loại gà rừng lai gà nhà, tuy nhỏ con nhưng rất háo chiến.

5. Gà còn có những tên khác tùy theo tuổi, tình trạng thân thể của gà.

Gà mái tơ: Gà mái còn nhỏ.
Gà mái ghẹ: Gà mái tơ, mới lớn lên, sắp đến thời gian chịu trống.
Gà giò: Gà nuôi độ 4 đến 6 tuần tùy loại, chưa hoàn toàn đủ lông.
Gà ấp: Gà mái trong thời kỳ ấp trứng.
Gà con: Gà mới nở còn đi quanh bên gà mẹ khi kiếm ăn.
Gà cựa: Gà có cựa dài được mài hay chuốt nhọn để khi đá nhau, làm đối thủ bị thương và bị thua độ.
Gà chọi: gà nuôi trong chuồng, được săn sóc riêng dùng để dự những trận chọi gà.
Gà dao: Gà chọi có cựa đã bị cưa ngắn. Chủ gà buộc 2 lưởi dao nhỏ và bén vào 2 cựa để gà dao có thể “chém” vào gà đối phương trong trận chọi gà.
Gà độ: Gà có đá độ với gà khác và đã thắng độ.
Gà hoa: Gà trống tơ không có thiến.
Gà thiến: Gà trống đã bị mổ hông và bị cắt mất hai trứng. Khi lớn trở thành mập béo và không thể có dục tính vì đã bị thiến.
Gà mờ: Gà bị bệnh 2 con mắt, không thấy rõ. Nghĩa bóng nói về người chỉ biết qua loa về một chuyện gì đó; người có vẻ khờ khạo, kém thông minh.
Gà nổ: Gà vàng có xen nhiều lông trắng.
Gà pha: Gà lai vài hoặc nhiều giống khác nhau.
Gà phèn: Gà lông màu vàng dợt như màu đường phèn. Nghĩa bóng, chỉ người ít ăn nói, tánh thật thà.
Gà tổ: Gà to lớn, còn gọi gà cồ.
Gà: chữ nầy chỉ là một chữ cùng âm nhưng khác nghĩa.
a) Chỉ giúp cho người khác một chuyện gì đó, thí dụ “gà bài thi viết về lái xe” cho người bạn để khi làm bài thi anh bạn khỏi lo âu.
b) Người có tính chậm chạp, đôi khi có vẻ như khờ.

III. GÀ TRONG BÀI LỤC SÚC TRANH CÔNG

Từ thời xa xưa, dân ta coi Gà là một trong sáu con vật được người thuần hóa, họp thành bầy gia súc. Sáu gia súc gồm: Trâu, chó, ngựa, dê, gà, và heo. Một văn sĩ ẩn danh đã viết truyện Lục Súc Tranh Công bằng chữ Nôm*. Bài chữ Nôm lại được nhiều người vô danh chuyển dịch sang chữ quốc ngữ.

(*Chữ Nôm là chữ viết của một số học giả Việt Nam, những người biết đọc chữ Tàu (chữ Hán) bằng giọng Hán Việt, chế ra. Các vị nầy mượn các bộ phận chánh trong chữ Tàu và ghép lại để thành chữ đọc các âm của tiếng Việt, còn gọi là tiếng Nôm. Chữ Nôm chưa bao giờ được các triều đình Việt Nam công nhận để dùng trong hành chánh và giáo dục nên sau nầy trở thành chữ chết. Nhưng các học giả chữ Nôm, trong khoảng thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX, đã để lại nhiều tác phẩm văn thơ cho nền văn học Việt Nam. Sau nầy khi chữ Quốc Ngữ trở thành thông dụng, một số rất lớn các tác phẩm được dịch sang chữ Quốc Ngữ, chữ chúng ta đang dùng hiện tại. Ngày nay chỉ còn một số rất ít người biết đọc và viết chữ Nôm. Chữ Quốc Ngữ là một “tuyệt vời” trong lịch sử dùng chữ viết của dân ta.)

Chuyện Lục Súc Tranh Công dùng thể thơ, viết về sáu con gia súc tranh nhau trước mặt chủ những công trạng của mình trong việc giúp chủ nhân, bằng cách khoe khoang công trạng, và chỉ trích khuyết điểm của con vật khác.
Đoạn bên dưới đây trích trong bài đã dịch sang chữ quốc ngữ, do Khổng Tước Linh Thần Toán Tử Bach Van Phi đăng trên web của ông (5). Cuối mỗi đoạn về một con vật, ông Bach Van Phi có chú thích, giải nghĩa những chữ Việt xưa mà ngày nay ít thấy dùng trong sách báo hay các phương tiện truyền thông khác. Chúng tôi chỉ “trích dẫn” đầy đủ về hai trong sáu con vật là Dê và Gà. Tuy chỉ muốn nói về Gà vào dịp xuân Đinh Dậu nhưng phải bắt đầu bằng con Dê vì Dê nói xấu nên Gà mới lên tiếng; và chấm dứt bằng con Heo vì trước khi dứt lời, Gà có than phiền vài câu về Heo. (Phần bài trích, có chữ nghiêng).

Trước hết xin nhắc lại về phần Dê khiếu nại về Gà.
DÊ KHIẾU NẠI VỚI CHỦ VỀ SỰ VÔ TÍCH SỰ CỦA GÀ
Lời tự thuận hai đàng xong xả,
Dê phát ngôn, bèn trở nại gà :
"Nuôi chúng tôi lợi nước lợi nhà,
Nuôi giống gà thật vô ơn ngãi.
Thấy chủ vãi đám ngò, vạc cải
Túc nhau bươi chếch gốc, trốc cây.
Thấy người trồng đám đậu, vồng khoai,
Rủ nhau vầy nát bông, nát lá.
Rất đến đỗi thấy nhà lợp rạ,
Kéo nhau lên vậy vã tâng bầng.
Cho ăn rồi quẹt mỏ sấp lưng
Trời chưa tối, đà lo việc ngủ.
Ba cái rác nằm không yên chỗ,
Mấy bụi rau nào để bén dây
Cả ngày thôi những khuấy, những rầy,
Nuôi giống ấy làm chi vô lối ?"
------------------------------ ------
- rắn: cứng cỏi.
- rồng: hay, khỏe mạnh.
- Chấp sự giả các tư kỳ sự: Người nào coi việc gì cứ giữ việc ấy.
- Vãi : rắc hạt giống trồng.
- ngò: loài rau thơm, tức là rau mùi.
- Vạc : đám.
- bươi: bới.
- trốc: đổ, làm bật lên.
- vồng: luống.
- sấp lưng: quay lưng lại.

GÀ BIỆN MINH VỀ TÀI CÁN VÀ LỢI ÍCH CỦA MÌNH
Gà nghe nói, nóng gan, nóng phổi,
Liền nhảy ra, chớp cánh, giương đầu.
Này này ! Gà ngũ đức thẳm sâu :
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.
Trên đầu đội văn quan một mũ ;
Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
Ðã ghe phen đến chốn chiến trường.
Lập công trận vang tai, lói óc,
Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc ;
Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,
Một tiếng rằng : thiên nhật tác thì ;
Hai tiếng rằng : quốc tộ tác xương,
Ba tiếng rằng : nhân gian tác lạc,
Ðã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát ;
Lại khuyên người Tấn Sĩ năm canh.
Hễ ai toan cải dữ về lành,
Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.
Coi giò gà xét biết thịnh suy.
Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,
Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,
Cứ mấy điều mà đoán,
Ðã tỏ việc phải chăng?
Giận anh dê cứ nói việc ăn,
Khéo kiếm chác những điều xoi tệ.
Dê biết lễ gà cũng biết lễ,
Dê phong Chủ Bộ, gà chức Tư Thần.
Nói vài điều đã biết xứng cân,
Huống gà có ngoại khoa biết mấy ?
Chưa biết ai hay rầy, hay khuấy,
Chưa biết ai ngủ sớm ngủ mê.
Gà không người chăn giữ đi về,
Nên gà mới lỗi lầm bươi móc.
Dê lầm thế không ai xem sóc,
Việc phá dê bằng chín bằng mười.
Bữa ăn gà tốn kém mấy hơi?
Nói những chuyện so chày buộc chặt.
Kể ít chuyện cho dê biết mặt,
Kẻ rằng gà vô thú trong đời.
Chẳng nhớ xưa đêm sáng, tốt trời,
Xui kẻ nhớ vợ hiền thêm chạnh.
Thức vua Thính làm lành giấc tỉnh.
Gà thua dê một hàm râu nịnh,
Nghĩ lại coi không ích lợi chi.
Gà dễ đâu có dám phân bì,
Nói điều phải mà nghe cho đặng ?"
Dê nghe nói công lênh nhẹ nặng,
Mới biết suy hơn thiệt mọi điều :
"Thôi, thôi, nói ít biết nhiều,
Dê xin chịu lập tờ tự thuận"

Gà còn hãy chưa nguôi cơn giận,
Bèn phát ngôn thưa chủ một lời :
"Như chúng gà vốn đạo làm tôi,
Giữ một tiết thức khuya dậy sớm.
Thủa ấu thơ người còn tríu trớn;
Ðến lớn khôn đều có riêng quan.
Ai siêng bươi, siêng móc thì no,
Bằng biếng lặt, biếng tìm thì đói.

GÀ THAN PHIỀN VỀ HEO
Gà gẫm lại thân gà thêm tủi,
Làm tôi người không đặng nhờ chi.
Heo ăn rồi ngủ ngáy sì sì,
Giả ngây dại, biết gì việc chủ.

Ngắm diện mạo, dị hình, dị thú,
Xem dung nhan khác thế lạ đời.
Như nuôi chơi, chẳng phải giống chơi
Chạy rau cám, như tiền nội án.

No đú mỡ, nhảy quanh, nhảy quất,
Ðói xép hông, cắn máng, cắn chuồng.
Mỗi một ngày ba bữa ròng ròng,
Ðã chẳng thấy bữa nào sai chạy,
Bán bối gì mà người yêu vậy ?
Mù quáng chi mà phải báo cô?"
------------------------------ ---------------
- chớp cánh: vỗ cánh.
- Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ: Theo Hàn Thi ngoại truyện : gà có năm đức-tính : có ăn thì gọi nhau là nhân ; có chí phấn đấu hăng hái là dũng; đêm gáy đúng gọi là tín; chân có cựa sắt là võ; đầu có mào đỏ là văn,
- văn quan: mũ quan văn
- thần thương: giáo sắt,
- thiên nhật tác thì: thời giờ bắt đầu cho đúng.
- quốc tộ tác xương: ngôi vua thịnh vượng cho lâu bền.
- nhân gian tác lạc: cõi người bắt đầu yên vui.
- Mạnh Thường đặng thoát: Theo sử ký : Mạnh Thường Quân khi đi tị nạn, đến cửa quan thì cửa quan đã đóng mất rồi, nhờ có người gia khách giả làm gà gáy sáng, người coi thành ngỡ là đã sáng, mở cửa thành, vì thế mà Mạnh Thường Quân thoát nạn.
- Tấn sĩ năm canh: Tổ Ðịch và Lưu Côn là hai chí sĩ ở đời Tấn, đêm nghe gà gáy trở dậy múa gươm.
- Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp:Theo Mạnh tử : Kê minh vi thiện : Những người tốt nghe gà gáy đã dậy ngay để làm điều lành.
- giò gà xét biết thịnh suy: Khương Tử Nha xem chân giò mà biết trước là nhà Chu hưng thịnh và nhà Thương mất.
- tiêu y: ban đêm cũng cứ để nguyên cả khăn áo, không ngủ và ngồi để chờ sáng.
- đãi đán: đợi sáng. Người có chí thì thường đêm không ngủ chỉ mong cho trời sáng để làm công-việc.
- Tư thần: Giữ một chức vụ báo cho người biết trời sáng.
- ngoại khoa: những môn ngoài môn chính.
- Xui kẻ nhớ vợ hiền thêm chạnh: Người vợ hiền nghe tiếng gà gáy, đã khuyên chồng trở dậy.
- Thức vua Thính làm lành giấc tỉnh: Theo Mạnh tử : Thuấn chi đồ kê minh thiện : Những người về phái vua Thuấn, nghe tiếng gà gáy đã trở dậy ngay để làm điều lành.
- tríu trớn: đớn hèn
- riêng quan: công việc riêng,
- Tiền nội án : tiền lộ phí trong việc kiện tụng.
- bữa nào sai chạy: bữa nào cũng phải cho đủ.
- báo cô: nuôi cho ăn không.

Đến đây hết phần trích đoạn trong bài Lục Súc Tranh Công. Chúng tôi tiếp theo về chuyện gà.

IV. LUẬT LỆ VỀ CHỌI GÀ Ở VIỆT NAM VÀ Ở CALIFORNIA


                                                                                   Hình Một Con Gà Chọi

                                                                           Nguồn: http://choiga.org/CHỌI GÀ


A. ĐÁ GÀ HAY CHỌI GÀ Ở VIỆT NAM

Chúng tôi chỉ có chút kiến thức trực tiếp về việc đá gà (chọi gà) khi còn nhỏ (dưới 10 tuổi) khi lúc đó tôi sống với cha mẹ ở một vùng cách quận lỵ khoảng vài cây số, và còn đang học bậc tiểu học. Từ khi lên Sài Gòn học trung học, chúng tôi không có dịp đi xem những trận đá gà nữa, và cũng không đi tìm xem khi trở lại thăm quê xưa. Lý do đơn giản là chúng tôi không thích xem “đá gà”. Từ năm 1972 sang Hoa Kỳ học và ở luôn bên nầy. Do đó luật lệ liên quan đến “Đá Gà” hay “Chọi Gà” ở Việt Nam có thể xem như một con số không khá to. Những gì viết về đá gà hay chọi gà ở Việt Nam là do truy tầm từ internet để tường trình lại cho độc giả. Một số chi tiết thì nghe qua các bạn xưa, từ Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ và kể lại.

Các bạn nầy nói rằng không có ai nhóm bạn họp mặt hôm nay, có dịp đọc điều luật nào liên quan đến việc chọi gà. Nhưng lúc còn ở VN các bạn thỉnh thoảng có đọc thấy trên báo là một số người bị bắt trong khi tụ tập nơi có trận chọi gà. Lý do chính bị công an bắt là vì việc cá độ, một loại cờ bạc; lý do thứ hai để công an bắt là vì tụ tập bất hợp pháp, dù là tụ tập để ăn sinh nhật. Các bạn còn bổ túc rằng “nếu biết điều” lo “ngoại giao” trước với công an địa phương thì không lo việc bị “hốt” vì luật là do công an địa phương thi hành. Tôi có thử hỏi là các bạn có nghĩ rằng Việt Nam có luật cấm chọi gà vì coi đó là một hình thức hành hạ súc vật không? Tất cả đều cười khì, trả lời là không có gì liên quan đến hành hạ súc vật. Lý do: Thứ nhất chọi gà là một trò chơi lâu đời ở Việt Nam, một phần của văn hóa giải trí của dân ta. Thứ hai, con nít còn bị hành hạ, làm gì có ai nghĩ đến việc làm luật để bảo trẻ con và bảo vệ thú vật theo khiểu “Mỹ” ở Hoa Kỳ. Hai trong năm người bạn còn khoe “tuần rồi hai đứa tui còn làm chuyện dại dột nhất đời của dân định cư là đi coi một nhóm Mỹ gốc Mễ chơi chọi gà có cá độ, ở vùng Santa Ana (thành phố có đông dân Mễ Mỹ hơn tất cả dân Mỹ gốc chủng tộc khác) suýt chút nữa là bị còng và vào tù rồi, và có thể bị trục xuất. Thật “hú hồn”.

Chuyên gia nhiếp ảnh Hoa Kỳ, Robert McPherson đã đi nhiều nơi ở Việt Nam, chụp nhiều ảnh về chọi gà (năm 2010) nói rằng “Chọi Gà” (Cockfighting) là một môn thể thao truyền thống và hợp lệ ở Việt Nam; nhưng môn thể thao nầy trở thành vi luật khi có cờ bạc dính vào. Ông cũng nói thêm rằng (trong thời gian ông ở Việt Nam 2010) ông ghi nhận rằng đảo Phú Quốc là nơi thu xếp nhiều trận gà độ, lẽ đương nhiên là giấu công an. Con gà độ ở trong các trận nầy không được nặng quá 2.5 ki lô, thuộc giống gà tuyển chọn, rất hăng trong việc chọi nhau. Lẽ đương nhiên là trong các độ chọi gà nầy có đánh cá độ.

B. CHỌI GÀ Ở CALIFORNIA

Chúng tôi xin tóm lược về vài con số liên quan đến chọi gà và luật chọi gà ở California:

Từ 2008 đến 2015 cơ quan cảnh sát có hành quân 110 vụ về chọi gà trong 35 quận hạt (county) của tổng số 58 quận hạt của California. Cảnh sát đã tìm gặp hơn 21 ngàn gà đã sống, hoặc chết trong các vụ thể thao dính máu nầy. Trong số gà nầy, có nhiều con có mang dao nhọn thế cựa. Những độ gà nầy cũng là nơi tụ tập của băng đảng và người buôn bán thuốc nghiện. Do đó các dân biểu xác định rằng đá gà là một trong những nơi phát sinh tội phạm.

Bộ Hình Luật của California, Điều Khoản 597b, ghi rõ là bất cứ ai sở hữu, giữ hay huấn luyện hoặc giao cho người đại diện, bất cứ con chim hay một cầm thú với ý định cho nó chọi nhau trong trường gà chọi, như đã mô tả trong Điều Khoản hình luật nầy, sẽ mang tội ở tù trong nhà giam County, thời gian không quá một năm; hoặc là sẽ bị phạt một số tiền không quá mười ngàn dollars ($10,000.00); và có thể bị phạt cả hai: Vừa bị tù và cả phải trả tiền phạt.

Nếu còn tái phạm, có hể bị thêm 1 năm tù và hoặc bị phạt hai mươi lăm ngàn dollars ($25,000.00).. . Trong trường hợp được giảm khinh vì lý do có ích cho luật lệ, hai con số trên (số tháng tù và số tiền phạt), có thể được giảm.

Đó là luật, nhưng cũng có một số người mê đá gà hay chọi gà có đánh cá. Và cũng có bố ráp, đưa ra tòa và có người lãnh án. Đặc biệt ở vùng Orange County, thị xã Santa Ana, thỉnh thoảng có nghe tin tức truyền thanh hoặc truyền hình về các vụ bố ráp chọi gà nầy.

Ngoài tội cờ bạc ra, còn có thêm một khía cạnh khác của luật lệ kiểu Hoa Kỳ:
Người tiêu khiển qua việc chọi gà còn có thể bị bắt và bị đưa ra tòa về tội “hành hạ súc vật". Đây là điểm khác biệt giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vì Việt Nam không có tội hành hạ thú vật.

Tất cả 50 tiểu bang của Hoa Kỳ đều có luật cấm chọi gà, trong đó có 39 tiểu bang xác nhận “chọi gà” là một trọng tội.

IV. NHỮNG ĐỀ TÀI KHÁC VỀ CHUYỆN GÀ.

Quí vị cũng như chúng tôi đều biết rõ rằng còn rất nhiều đề tài khác về Gà ở Hoa Kỳ như:
- Kỹ nghệ nuôi gà (Những trại nuôi gà).
- Kỹ nghệ buôn bán gà tươi và gà đông lạnh.
- Kỹ nghệ nhà hàng liên quan đến gà, v.v.
Các đề tài nầy đều có thể tìm thấy nhanh chóng qua Google. Nó dài vô tận. Thí dụ muốn đọc về các nhà hàng chuyên dùng thịt gà làm món chánh, mời quí vị vào Google Search web: https://en.wikipedia.org /wiki/List_of_chicken_restaurants; và tha hồ tìm hiểu về các nhà hàng nầy.

V. VÀI CHUYỆN VUI, ĐIỂN TÍCH VỀ GÀ.

Dân gian ta có câu :

-“Nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ”: nghĩa đen gà mái phá phách, gà mái đá gà trống; nghĩa bóng là người nữ dữ dằn, đánh người đàn ông.

-"Tốt mái hại trống": câu này tuy không nói rõ là con gà nhưng ý dân gian ai cũng hiểu "trống mái" là chỉ về gà. Nghĩa bóng là sau khi cưới nhau, người vợ phương phi phát tướng, trong khi người chồng ngày càng gầy nhom, ngầm ý giễu cợt là người vợ khỏe trong "chuyện ấy" nên hút hết tinh lực của chồng.

- Thuở nhỏ chúng tôi đều thuộc bài đồng dao này :

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng
Con trâu cười ngả cười nghiêng
Tôi không cần riềng, mua tỏi cho tôi.

Tuổi nhỏ chúng tôi yêu bài đồng dao đó đơn giản chỉ vì hình ảnh và tiếng kêu đặc trưng của các con vật thân quen trong làng trong xóm: "con gà cục tác, con lợn ủn ỉn". Lớn lên chúng tôi mới lãnh hội được cái nguyên lý nấu ăn của dân gian : sử dụng gia vị cho từng món độc đáo. Thịt gà phải có lá chanh, thịt heo phải có hành, thịt chó phải có riềng, thịt trâu phải có tỏi. Đứng ở góc độ cảm thụ văn học, chúng tôi lại càng kính trọng cái tình cảm sâu xa của dân gian khi nói về con chó. Trong bài đồng dao trên, con chó là tội nghiệp nhất ! Con chó không được diễn tả bằng tiếng kêu "gâu gâu", mà thay vào đó là nó "khóc đứng khóc ngồi", thiệt là đau đớn ! Phải chăng bài đồng dao ấy đã chuyển tải thông điệp nhân ái của dân gian đến muôn đời : đừng ăn thịt chó !

- Khi chúng tôi học trung học, sinh hoạt hiệu đoàn với những buổi du khảo, cắm trại, có những trò chơi hò hát thật vui. Như hò đối "Vân Tiên cõng mẹ" phe nào bí vần thì thua :

Vân Tiên cõng mẹ chạy vô
Đụng phải cái bồ cõng mẹ chạy ra
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra
Đụng phải con gà cõng mẹ chạy vô.

Hahaha, đụng con gà mà người ta phải chạy, vui thiệt vui, cười lăn lóc.
Xem ra các trò vui muốn kiếm vần "a" thì con Gà là dễ nhất. Như Tết chơi lô tô, khi kêu lô tô bí ca dao thì chúng tôi nhanh trí đem con gà ra cứu bồ:

Cờ ra con mấy... Con mấy cờ ra ...
Cờ ra con gà - Là con số 3 !

- Con hơn cha là nhà có phước trong bữa “nhậu” thịt gà.
Truyền thống của dân nhậu là thích nhậu với vài phần đặc biệt của cơ thể gà luộc như phao câu, đầu cánh gà, lòng gà v.v. Trong một gia dình nọ, khi ngồi lại quanh bàn ăn, có món đầu là món thịt gà luộc. Người cha muốn thử tài làm thơ của hai người con lớn nên nói rằng trước khi gắp gà phải làm một câu thơ.

Người con trai bắt đầu trước:
Trai thời trung hiếu làm “đầu”
Đọc xong, nó gắp cái đầu gà vào chén.
Người con gái kế đọc rằng:
Gái thời tiết hạnh, phao câu, cánh, mề.

Đọc xong, cô gái gắp cái phao câu vào đĩa mình, gắp hai cái cánh cho cô em gái, và cái mề cho người mẹ. Người cha vỗ tay khen hai con. Nhưng ông cũng hạ giọng than nho nhỏ: Hôm nay ăn gì để nhậu đây. Người mẹ cười tình, bước qua bếp đem về cho người cha một thố nhỏ “gà tiềm thuốc bắc”. Cặp mắt ông sáng hơn lên khi các con ông trả lại cho ông đầu gà, phao câu, cánh và mề. Ông nói nho nhỏ: Được quá, trẻ khôn qua, già lú lại. Cả nhà có một bữa cơm thịt gà nồng ấm.

- Nhớ thời con nít đi học tiểu học, chúng tôi thường nhịn ăn sáng cắc củm để mua truyện tranh, háo hức canh ngày ra lò thường kỳ của truyện "Tề Thiên Đại Thánh". Con nít của Miền Nam thân yêu không trò nào mà không mê Tề Thiên. Hình vẽ đẹp, in offset, một trang có hai hình, bên cạnh là văn viết, đó là nội dung của "Tây Du Ký". Hồi đó cái tựa "Tây Du Ký" bọn trẻ chúng tôi không cần biết, có lẽ vì vậy mà cái bìa truyện tên là "Tề Thiên Đại Thánh" mới ăn khách. Chúng tôi hồi hộp theo từng trận đấu của Tề Thiên với các con yêu quái. Mấy con yêu quái thường là vật nuôi, "thú cưng" của các vị Tiên trên trời, chúng xổng chuồng xuống trần gian quậy tưng bừng. Tề Thiên nắm thóp nó, bay tót lên trời kêu chủ nó xuống thu phục là xong. Nhưng gay cấn nhứt là một con nữ yêu xinh đẹp, con quái nầy rất độc, Tề Thiên bị nó chích một cái trúng đầu, đau quá, thua xiểng liểng. Cái đầu của Tề Thiên là cứng vô địch, từng bị Thái Thượng Lão Quân "hầm" trong lò bát quái 49 ngày đêm cũng hổng nhằm nhò gì, ấy thế mà cái đầu "kim cương bất hoại" của Đại Thánh cũng chịu thua một mũi chích của con Tỳ Bà Tinh kia.
Nhờ đọc Tề Thiên ở đoạn này mà các bé chúng tôi ở thành thị mới phát hiện được một điều thú vị tuyệt vời về con GÀ - là khắc tinh của con Rết ! Con yêu quái đó là con Rết ở chùa Lôi Âm nghe đức Phật Như Lai giảng kinh, khi Ngài lấy tay phủi nó thì nó cũng chích Như Lai một mũi đau ò e luôn. Con này dữ dễ sợ, Phật mà nó cũng hổng ngán. Khi Tề Thiên biết tướng tinh của nó là con rết, Tề Thiên cười khẹc khẹc "Ơ-rê-ka" ta đã tìm ra khắc tinh để trị ! Thế là Mão Nhật Kê Tinh Quân xuất trận. Mão Nhật Kê là Con Gà Trống - vừa cất tiếng gáy oai hùng là con yêu quái kia sợ quá hiện nguyên hình liền.

- Chúng tôi mới hiểu lời Ngoại dặn "thịt gà phải lấy lồng bàn đậy kỹ nha con". Mẹ kể "con rết nó thù con gà, nghe mùi thịt gà là nó bò vô rải độc, mình ăn trúng à". Bây giờ nhớ lời người xưa mà xúc động cách dạy dỗ dễ nhớ dễ hiểu của Ngoại và Mẹ.

- Con Gà trong "Tây Du Ký" là một Tinh Quân ở trên Trời, quả thật xứng đáng với "năm Đức lớn" đã kể trong "Lục Súc tranh công" đã dẫn ở phần trước :

Này này ! Gà ngũ đức thẳm sâu :
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

"Ngũ Đức" của Gà là :
- Đầu mang mào, đó là văn. Giương cựa, đó là võ. Địch thủ trước mặt vẫn hiên ngang đánh, đó là dũng. Thấy thức ăn thì gọi nhau, đó là nghĩa. Gáy sáng không hề lỗi hẹn, đó là tín. Xem ra con người mà có được năm đức ấy quả thật không nhiều.

- Về địa lý, Việt Nam sông núi hữu tình của chúng ta có một địa danh nổi tiếng là MŨI KÊ GÀ.
Mũi Kê Gà nằm ở huyện Hàm Thuận Nam cách thành phố Phan Thiết 30km về hướng Nam. Thiên nhiên hoang sơ đã tạo ra mũi đất đó với những phiến đá nhô ra biển giống hệt cái đầu gà. Nơi nầy có một ngọn hải đăng lịch sử được gọi là "Hải Đăng Mũi Kê Gà" - do một kiến trúc sư người Pháp tên Snavat thiết kế, được xây dựng năm 1897.

- Từ địa danh Mũi Kê Gà, chúng tôi nhớ một địa danh khác cũng có chữ "Kê" trong hai câu thơ lừng danh thiên cổ của vua Trần Nhân Tông. Ngài đã cho khắc hai câu thơ này sau đuôi thuyền ngự của Ngài:

Cối Kê cựu sự quân tu ký
Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh.

Nghĩa rằng:
Chuyện cũ Cối Kê người nên nhớ
Đất Hoan, Diễn còn mười vạn quân.

Sử chép, đầu năm 1285, đại quân Nguyên Mông tấn công ải Chi Lăng, Nội Bàng, xâm lăng nước Đại Việt ta lần thứ hai. Trước thế mạnh của quân giặc, ải Nội Bàng thất thủ. Hưng Đạo Vương buộc phải lui quân về Vạn Kiếp để bảo toàn lực lượng. Nghe tin ấy, vua Trần Nhân Tông bỏ cả ăn sáng, Ngài lập tức rời Thăng Long ngồi thuyền ngày đêm đi Hải Đông gặp Hưng Đạo Vương. Tình hình chiến sự lúc ấy làm lòng dân bấn loạn : Vua phải bỏ kinh thành, tướng sĩ phải triệt thoái. Biết được điều đó, vua Trần Nhân Tông cho khắc hai câu thơ của Ngài sau đuôi ngự thuyền. Hai câu thơ ấy lập tức làm nức lòng quân sĩ, quật khởi hùng tâm tráng chí của dân tộc không khác nào hào khí Hội Nghị Diên Hồng !

Vua nhắc tích xưa Cối Kê là chuyện Việt Vương Câu Tiễn. Vua nước Việt là Câu Tiễn bị vua nước Ngô là Phù Sai đánh bại. Câu Tiễn thất trận chỉ còn một ngàn quân phải rút về Cối Kê ẩn nhẫn, luyện quân kháng chiến. Về sau Câu Tiễn phản công, Phù Sai đại bại. Câu Tiễn dựng nên nước Việt hùng cường chiếm lĩnh cả lãnh thổ nước Ngô.
Nay nhà Trần ta, hai Châu Hoan, Châu Diễn còn mười vạn quân ! Có thể nói hai câu thơ nầy đã góp nên trận đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai lừng lẫy của lịch sử Đại Việt.

- Có những điển tích lịch sử về chuyện "Gà Mái Gáy Sáng".

Chữ rằng "Tẫn Kê Tư Thần". "Tẫn Kê" là gà mái. "Tư" là vị chưởng quản, "thần" là buổi sáng sớm.
Gà Trống được địa vị cao quý "tư thần" là do tiếng gáy gọi mặt trời không bao giờ sai chạy. Cho nên "tư thần" chỉ dành riêng cho Gà Trống, hiểu là "Gà Trống Gáy Sáng". Trong Lục Súc tranh công, Gà kể câu "Gà chức Tư Thần" là nghĩa vậy.

Luật đời không có chuyện Gà Mái Gáy Sáng. Cho nên thành ngữ "tẫn kê tư thần" là lời mắng những người đàn bà khuynh đảo kỷ cương, làm loạn triều chính, hại dân hại nước.
Chữ "tẫn kê tư thần" được sử dụng lần đầu tiên trong chính sử Trung Hoa cổ, là do Chu Võ Vương hài tội Đắc Kỷ. Chu Võ Vương thống lãnh quân binh thảo phạt Trụ Vương, tuyên thệ trước khi xuất quân ở Mục Dã có câu rằng: "Người xưa nói gà mái gáy sáng là không hợp đạo lý, gà mái thay thế gà trống báo thức thì cửa nát nhà tan, người đàn bà mà cướp lấy chính quyền của kẻ trượng phu thì quốc gia phải vong. Trụ Vương tin vào lời gièm pha của Đắc Kỷ thi hành biện pháp hà khắc tàn ác, là căn nguyên mất nước vậy".

Ở nước ta thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ở Đàng Ngoài có một con "Gà Mái Gáy Sáng" cũng kinh lắm ! Dã sử trong dân gian gọi Tuyên phi Đặng Thị Huệ vợ của Chúa Trịnh Sâm là ả "Gà Mái Gáy" dữ dội đó.
Được Chúa sủng ái rất mực, Đặng Thị Huệ một tay che trời, tung hoành ác đức. Bà ta dung túng cho thằng em là Đặng Mậu Lân tác oai tác quái tàn hại dân lành. Đặng Mậu Lân là thằng du côn mất dạy, hắn là đại dâm tặc, cả con gái của quan của Chúa hắn cũng chẳng tha. Nhưng chuyện tột đỉnh "gáy sáng" đi vào chính sử của "gà mái" Đặng Thị Huệ là chuyện phế thái tử Trịnh Tông để lập con của ả là Trịnh Cán mới 6 tuổi lên ngôi.
Hồi chúng tôi học trung học có học qua tác phẩm "Thượng kinh ký sự" của danh y Hải Thượng Lãn Ông kể vào phủ Chúa Trịnh, chính là vị danh y này đi chữa bệnh cho ông vua nhóc tì đau ốm liên miên Trịnh Cán đó.

- Đại thi hào Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc có bài thơ "Tượng Vương Thị". Nhà thơ đã sử dụng nghĩa "tẫn kê tư thần" để mắng đích danh Vương thị là vợ của gian thần Tần Cối. Hai vợ chồng gian tặc này đã hại danh tướng trung lương Nhạc Phi. Trước mộ của Nhạc Phi là tượng vợ chồng Tần Cối quỳ gối chịu tội.

Bài thơ của Nguyễn Du :
Vương thị tượng kỳ 2
Thâm đồ mật toán thắng phu quân,
Ưng thị thần kê đệ nhất nhân.
Bất lạn dĩ sinh tam thốn thiệt,
Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân.
Xướng tuỳ tận đạo ưng vô hối,
Kĩ lưỡng đồng niên cánh khả thân.
Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng,
Dã tằng hám phá Nhạc gia quân.

Dịch nghĩa:
Mưu tính thâm hiểm hơn chồng
Đúng là "gà mái gáy sáng" bậc nhất
Sinh ra đã có ba tấc lưỡi "ngoại hạng"
Lại có được tấm thân muôn năm toàn bằng sắt cứng
Giữ trọn đạo vợ chồng, không có gì hối tiếc
Tài khéo gian xảo cùng chồng càng thêm thân mật
Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh
Y thị đã từng phá tan quân của họ Nhạc.

Đến đây Chuyện Về Gà cũng khá dài, mời bạn bè độc giả gần xa tìm vui trong dịp Xuân ĐINH DẬU 2017.

Trước khi ... hết bài, chúng tôi mượn lời dân dã Việt Nam kể cho quý vị nghe con Gà nó nói cái gì với nhau...
Mỗi sáng sớm, chú Gà Trống sau khi đạp mái ồn ào, chú ta bay trên cành cây vỗ cánh phành phạch, gáy lên oai hùng "Đời Có Thế Mà Thôi...". Trong lúc đó chị Gà Mái lạch bạch lầm bầm "Lẹ Quá ! Lẹ Quá !".

Gà trống hứng chí làm bài thơ Kiếp Gà*
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm con gà trống cho đời tự do
Thả sức mà gáy o…o…
Quanh năm đạp mái không lo trả tiền
Xong rồi về với tổ tiên
Tắm qua một cái rồi lên bàn thờ
Lạc vào tiên cảnh nên thơ
Khỏa thân làm dáng dư thừa sức trai
Cuộc đời ngẫm cũng chông gai
Thôi thì ta cứ đầu thai kiếp gà
Tha hồ ghẹo nguyệt trêu hoa
Ăn no rửng mỡ lê la xóm làng!
Kiếp gà trống thật vẻ vang
“Đạp” xong vỗ đít gáy vang đất trời
Sướng hơn cái kiếp làm người
Sống vô tư suốt một đời … làm trai.

** Bài Kiếp Gà chôm từ quyển Kỷ Yếu Quân Y Hải Quân 2016, mục “Cười Cho Dzui, không thấy tên tác giả.

Chúng tôi kính chúc quí vị luôn được đa phúc, đa lộc, và đa thọ trong suốt năm ĐINH DẬU.

Nguyễn Hữu Phước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. California Penal Code.
Part 1. Of Crimes and Punishments. Title 14. Malicious Mischief. § 597j.
Google Search: (https://www.animallaw.info/st atute/ca-cockfighting...)
2. Đào Duy Anh (?). Hán Việt Từ Điển. Trương Thi XB, Sài Gòn Việt Nam.
3. Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ. 1970. Việt Nam Tự Điển. Nxb Khai Trí, Saigon, VN.
4. Nguyễn Hữu Phước (2013). “Chuyện Tình Rồng Nam và Long Nữ Qua Ca Dao
Lục Tỉnh” Tuần Báo Việt Tide” Westminster, California, USA.
5. Phan Tấn Tài* (2005-8). “Ca Dao Miền Nam” Đặc San Đồng Nai - Cửu Long.
Nxb:Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Westminster California, USA.
6. Vô Danh. Bach Van Phi Web (2014). Lục Súc Tranh Công.
7. Wikipedia Web. (Google Search).

 [Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates