Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui
RỒNG NGUYỄN ÁNH:
Ca Dao Từ Bến Tre Đến Phú Quốc
                                                       

Ts. Nguyễn Hữu Phước                                  
                          
Chúa Nguyễn Ánh và Cây Bần hay Cây Thủy liễu. 
Năm 1775 khi Phú Xuân thất thủ vào tay Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn Duệ Tông cùng với một người cháu tên Nguyễn Ánh, thoát nạn chạy vào đất Gia Định. Sau đó Nguyễn Ánh được làm “Chúa Nguyễn” cầm đầu dòng họ Nguyễn. Trong lúc đó anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã nổi dậy ở làng Tây Sơn, tỉnh Bình Định từ năm 1771 để chống lại Chúa Nguyễn. Vì vậy  từ 1775 cho đến 1790, quân binh của Nguyễn Ánh và quân binh Tây Sơn đã đánh nhau nhiều trận ở vùng Gia Định.
Quân binh Tây Sơn đã đánh và chiếm Gia Định tất cả 6 lần, có nghĩa là quân binh Nguyễn Ánh đã thua và chiếm lại Gia Định 6 lần; nói khác đi, biết bao xương máu đã đổ và bao nhiêu mạng sống đã bị hủy diệt (vì tham vọng của kẻ nắm quyền.)
Mỗi lần thất thủ Gia Định, Nguyễn Ánh  đã bôn ba chạy lánh nạn Tây Sơn, và ẩn tránh ở nhiều vùng khác nhau ở vùng Đồng Nai – Cửu Long.
Năm 1778 Nguyễn Ánh được tôn làm Tân Chính Vương. 
Năm 1802, sau khi thống nhất Việt Nam từ Nam chí Bắc, Nguyễn Vương lập ra nhà Nguyễn, chính thức lên ngôi vua của Việt Nam với niên hiệu Gia Long. Đây là Rồng đầu tiên của triều đại Nhà Nguyễn.
Trong suốt 15 năm từ 1775 đến 1790, Lục Tỉnh là cái nôi giúp Ông nhân lực, tài lực và thực phẩm trong thời gian gây dựng lại cơ đồ nhà Nguyễn. 
Đồng bằng Đồng Nai – Cửu Long, ven bờ sông, rạch có rất vô số những cây bần.  Theo học giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ,  cây bần :
“Cũng gọi là thủy liễu, loại cây to mọc dựa bờ nước, lá nhiều, nhành yếu, bông trắng, trái tròn dẹp, có đài dầy,  nhọn ở gần cuống, ăn chua và chát (Sonneratia).”
Có lẽ không một người nào biết rõ ràng địa dư của miền Lục Tỉnh thời xưa bằng chúa Nguyễn Ánh.

Chúa Nguyễn Ánh đã từng lánh nạn ở Bến Tre:
Theo Ông Nguyễn Hữu Đức (NHĐ):
“Chúa Nguyền có lần chạy nạn, ... chúa Nguyễn ... ghé qua đồng Tam Quản,   thuộc xã Hiệp Hưng, quận Giồng Trôm (thuộc Bến Tre) ... gặp được cụ Trương Tấn Khương giúp đỡ và còn cho con trai là Trương Tấn Bửu, đưa chúa Nguyễn ra  Cù Lao Đất, đây là một cồn nhỏ nổi lên nằm giữa sông Hàm Luông, để trốn binh lính của Tây Sơn.”  
Cũng theo ông NHĐ, sông nầy trước kia có tên là sông Hàm Long, và Chúa Nguyễn Ánh trong lúc bôn ba “chạy nạn” đã có lần “từ biển Ba Tri vào cửa Hàm Luông”. Sau nầy Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long nên dân miền Hàm long, theo tục cử tên, gọi là sông Hàm Luông.
Chính nơi đây, chúa Nguyễn được một vị chủ nhà cho ăn “mắm cá chốt” và “vài trái bần chua” với  “cơm nguội”. Chúa Nguyễn hỏi tên trái cây chua chua đó và được biết là trái bần. Chúa ra ngoài nhà nhìn thấy vô số cây bần mọc hai bên bờ sông.
“Chúa Nguyễn bảo rằng cây nầy xanh xanh giống như cây liễu, trong thi phú đời Đường đời Tống ... Cây liễu ở xứ ta mọc trên bãi bùn, dẫu cho nước mặn cũng không héo lá, vẫn xanh tươi, chúng ta nên gọi cây bần là cây Thủy Liễu, loại liễu mọc ở dưới nước vậy.” (NHĐ)
Vậy tên “thủy liễu” của cây bần, theo giai thoại do ông NHĐ ghi lại,  là do Chúa Nguyễn Ánh đặt ra. 

Ca Dao Và Cây Bần
Sau đây là vài ba câu hát liên quan đến cây bần do các bạn già ghi lại:

Tuổi thân con khỉ ăn bần
Chuyền cây hái trái lọt ùm xuống sông. 

Hoặc:

Cây bần de (hay gie) cây bần ngả cây bần quỳ*
Cảm thương  con khỉ đột lấy gì mà ăn.

Hay là:

Bần gie bần ngả bần quỳ
Sống mà chịu cảnh chia ly thêm buồn

Hay là:

Bần gie con hạc đậu cánh xòe
Tưởng anh vô gá nghĩa, ai dè gạt em.

(4 câu chữ nghiêng:do Ts Phan Tấn Tài cung cấp.)
(*De  hay gie, là nghiêng ra, nghiêng về một phía;  quỳ = ngả nghiêng do gió thổi hay do nước chảy làm thân cây quỵ xuống. Ca dao cũng có câu khác dùng chữ quỳ:

 
Gió đưa bụi chuối ngả quỳ,
Thương cha phải chịu luỵ dì dì ơi.)

Các anh trai làng thời xưa cũng thường lợi dụng bụi bần rậm rạp để “dòm lén” các cô gái nhà quê đi ngang qua lại:

Anh kia trốn bụi bần non
Không lo chài lưới, lo dòm các cô.

Các “rừng bần”, nơi ẩn náu, và là nguồn thực phẩm của khỉ, còn là nơi cư trú của vô số con đôm đốm. Ban đêm, ánh sáng đôm đốm lập lòe ven sông, là một bức tranh đẹp khó tả, thay đổi tùy theo tâm trạng của người ngắm tranh. Ai đó đã mượn cảnh nầy để trách người yêu:

Bần già đốm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên. 

Hoặc:

Đốm đeo thủy liễu đôi chùm
Biết ai nhơn đạo chỉ giùm làm ơn.

(Có người khác đọc là: Biết ai nhơn đạo làm mai giùm, tôi cảm ơn)

Và:    

Bần de đôm đốm bu quanh
Lập lòe sáng tối, lòng anh nhớ nàng.
Hàng dừa soi bóng Hàm Luông,
Bần de đốm đậu, qua buồn nhớ em.      

Cây bần mọc ở mé sông, nơi có nhiều nước, tuy không cao và lớn, và không có gỗ tốt như các cây: ô dước, bời lời, sao, sến, nhưng có thể dùng trong việc xây cất. Ca dao có câu sau đây liên hệ đến cây bần, tuy rằng nói về chuyện thân phận chớ không trực tiếp về việc xây cất hay sự tốt xấu của gỗ:

Cảm thương ô dước, bời lời
Cha sao, mẹ sến, dựa nơi góc bần

Bông bần trắng, nằm giữa lá bần xanh trông rất đẹp.  Nhưng ai đó đã thất vọng vì bông bần không thơm, nên có câu ca dao:

Cây bần ơi, hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm. 

Trong văn chương truyền miệng cũng có câu hát đùa về ông Táo và ông địa  dùng cây bần làm cảnh:

Ngó lên chót vót cây bần, 
Thấy ba ông địa ở trần nấu cơm
Ông táo lấy chén đơm cơm,
Ông địa lo giỡn nồi cơm khét rồi.

Và còn có câu sau đây:

Mồ cha chôn cạnh gốc bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.

Hoặc:

Chiều mai chiều mốt anh “cốt” cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.*

[(*Theo TS PTT, 2 câu trên lấy từ “Bộ hành với Ca dao” của tác giả Lê Giang.  Ông PTT giải thích rằng có một anh chàng không cho ghe một anh khác đậu gần “ghe cô bán tôm” là vì “ghen”; đây là ca dao vùng Rạch Giá, Cà Mau vì hai nơi nầy  chữ “cốt” có nghĩa là đốn (chặt) cây rất thông dụng.)]

Ngày xưa khi chúng tôi còn nhỏ (trong thập niên 1945-55) có nghe hát bản nhạc “Lên Đàng”* của Lưu Hữu Phước:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng, kiếm nguồn tươi sáng..”

Câu hát hay ho trên lại bị đám trẻ nhỏ “miệt vườn” đổi ra như sau:

“Bần chua ăn ngon cầm con dao phay xuống xuồng, xới vài con mắm. . .”

[(Theo Ông Đoàn Minh Hóa, Chủ nhiệm Nguyệt san Đi Tới (Canada - đã ngưng xuất bản  từ khoảng 2007), bản Lên Đàng do các nhạc sĩ Huỳnh Văn Tiếng viết lời và Lưu Hữu Phước viết nhạc, ra đời vào năm 1947. Bản nhạc nầy được phổ biến trong thời Nam Bộ kháng chiến chống Pháp. Xin xem phóng ảnh bản nhạc, đính kèm, trích từ quyển Thanh Niên Ca do một nhóm cựu học sinh Petrus Ký xuất bản.)]

Giai Thoại Về Địa Danh “Ngã Ba Bần Quỳ”
Nơi hợp lưu của sông Vàm Cỏ và sông Tra có nhiều bần ở bờ sông. Nơi đó có tên là Ngã Ba Bần Quỳ. Tác giả Minh Khai đã giải thích nguồn gốc của địa danh nầy như sau:
“Tương truyền rằng … khi ông Phan Thanh Giản  . .uống thuốc độc tự tử ... Tất cả bần ven sông (vùng hợp lưu) quỳ xuống như để chịu tang người khí tiết, trung quân, ái quốc. Từ đó vùng ngã ba sông Vàm Cỏ và sông Tra được gọi là Ngã Ba Bần Quỳ.” (Minh Khai)

Cặc Bần: Tên Bình Dân Của Rễ Bần.
Một điểm chót cần nói về cây bần. Chúng có một số rễ đặc biệt, lớn hơn ngón tay cái một chút, mọc từ dưới bùn chĩa lên trời, dân Lục Tỉnh cho một tên cũng rất đặc biệt bình dân cho rễ bần: “cặc bần”. Quyển Việt Nam Tự Điển (LVD & LNT) có ghi định nghĩa: 
“Cặc bần (danh từ, thực vật):  Rễ cây bần, rễ cứng đuôi nhọn đâm ngược và ngay lên chôm chổm khỏi mặt đất từ 20 đến 40 cm”. 
Người dân quê dùng nó làm nút chai. Khi nước ngập một phần lớn của rễ bần, nếu nước chảy mạnh, rễ bần thường ngả qua xuyên lại. Do đó, ở miền đồng bằng ĐN-CL có một câu đối khá độc đáo về rễ bần  như sau:

Nước chảy cặc bần run bây bẩy
Gió đưa dái mít giãy tê tê.  

Chúa Nguyễn Ánh Và Đảo Phú Quốc
Nhưng Chúa Nguyễn Ánh có liên hệ gì đến cây cải và rau răm?
Tác giả Nguyễn Phúc Liên Kỳ (NPLK) đã cho chúng ta biết nguồn gốc của hai câu trên qua một bài khá dài. Tôi xin tóm lược như sau:
Vào năm 1783 sau khi mất Gia định lần thứ ba, Nguyễn Vương (Chúa Nguyễn Ánh được tôn làm Tôn Chính Vương năm 1778) phải chạy ra vùng đảo Phú Quốc. Nhưng lại bị thua trận, Nguyễn Vương phải trốn ở vùng đảo Côn Lôn và lại thua tiếp một trận lớn khác ở vùng nầy, nhưng rồi vẫn thoát nguy và trốn lại được ở đây. Trong tình thế tuyệt vọng đó. Nguyễn Vương đã liên lạc với Giám Mục Bá Đa Lộc và đi đến quyết định cầu viện nước Pháp. GM Bá Đa Lộc yêu cầu cho một Hoàng Tử đi theo phái đoàn cầu viện để dễ dàng hơn cho việc thương thuyết. Nguyễn Vương chọn Hoàng tử Hiệp (sáu tuổi), con duy nhất của bà Thứ phi Phi Yến. 
[(Bà Phi Yến cực lực phản đối ý định cầu viện người Pháp). Bà Phi Yến, sau khi việc năn nỉ cho con khỏi đi không kết quả, “có tiếng cãi lời Nguyễn Vương”. Ông ra lệnh giam Bà trong hang núi ở một đảo nhỏ khác.  Hoàng Tử Hiệp khóc, và cũng không chịu tuân lệnh đi theo phái đoàn. 
Trong lúc ấy quân Tây Sơn đang vây vùng nầy và đang truy lùng Nguyễn Vương. Ông ra lệnh quăng Hoàng tử Hiệp xuống biển và thoát chạy. (Sau khi tìm được nơi trú ẩn an toàn, Ông cho Hoàng tử Cảnh, người con duy nhất của Bà Nguyên phi (sau nầy được tôn làm Cao Hoàng Hậu Tống Thị) theo GM Bá Đa Lộc đi Tây.)]
Hoàng tử Hiệp có biệt danh là ông “Hoàng Cải” và Bà Phi Yến có biệt danh là bà Phi Răm. Dân chúng vớt xác ông Hoàng Cải và chôn cất, xây mộ đàng hoàng và “gọi ngôi mộ ông Hoàng Cải là Mả Cậu”.
Về phần Bà Phi Yến, sau khi Nguyễn Vương đi rồi, dân địa phương cất nhà cho Bà cư trú. Dù vậy bà đã sống một đời đau khổ vì mất con trong khi trông chờ sự trở về của Nguyễn Vương.
Vì câu chuyện trên, sau khi Bà chết, dân chúng đã đặt ra hai câu hát:

Ầu ơ . . .
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời (chịu đời?) đắng cay.

Cái chết của Bà Phi Yến lại là một chuyện thương tâm khác. Sau nầy, trong một đêm, sau buổi lễ cúng đình, một tên cường hào vào chỗ ngủ tạm của bà định cưỡng hiếp. Hắn ta chỉ nắm trúng một tay của Bà. Bà chống cự, dân làng bắt được tên đó. Sáng hôm sau, sau khi cảm ơn dân chúng đã cứu bà, trước mặt dân làng:
“Bà dùng dao chặt cánh tay đã bị tên vô lại vấy bẩn đêm qua; và để tỏ lòng trong sạch cao quý của một Hoàng Phi bà đã rút cây trâm cài đầu mà Nguyễn Vương tặng bà năm xưa đâm sâu vào cổ tự sát.”
Dân chúng địa phương chôn cất Bà bênh cạnh Mả Cậu, và họ thờ cúng Bà ở An Sơn Miếu, thuộc đảo Côn Lôn Nhỏ, nơi Bà bị giam giữ khi xưa. Do đó,  đảo Côn Lôn Nhỏ còn có tên là  Hòn Bà (NPLK).

________________
Tài Liệu Tham Khảo

A. Tài liệu truyền khẩu  và tư liệu
:

- Một số câu ca dao do các “bạn già”  cung cấp.
- Phan Tấn Tài (2005).  “Emails gởi Nguyễn hữu Phước” về một số tài liệu liên quan đến các câu ca dao trong bài “Đồng Nai  Cữu Long: Những câu ca dao”
B. Sách và Đặc San
-  Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (1970). Việt Nam Tự Điển. Nxb  Khai Trí, Saigon, VN. 
-  Minh Khai, (2000). “Vàm Kỳ hôn, kinh Chợ gạo, và con đường lúa gạo Miền Nam.” Đặc san Tiền Giang – Hậu Giang, California, USA.
-  Nguyễn Hữu Đức, (2000).  “Trái bần hay trái thủy liễu”, Đặc San Bến Tre. Hội Ái Hữu  Bến Tre xb,  CA, USA.
-  Nguyễn Phúc Liên Kỳ (2004).  “Chúa Nguyễn Phúc Ánh và mối tình trung trinh đất  Côn Đảo” , Ba vị Hoàng đế cách mạng: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Đăc San, Hội Đông Hoàng Tộc Hải Ngoại xb, California, USA.
-  Vương Hồng Sển (1993). Tự vị tiếng Việt miền Nam. Nxb Văn Hĩa, TP Hồ Chí Minh, VN.
 
 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates