Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

CON RỒNG TRONG LÒNG DÂN VIỆT

                                               Nguyễn Hữu Phước

 

Năm Nhâm Thìn Hay Năm Con Rồng

 

        

Theo cách tính của Đông phương, năm được đặt tên theo mười can, hay thập can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý), và mười hai chi, hay thập nhị chi (tý, sữu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Tính theo thứ tự của thập can từ giáp cho tới quý thì mỗi mười năm có một năm bắt đầu bằng chữ nhâm. Và theo thứ tự của thập nhị chi thì mỗi mười hai năm mới có một năm có chữ thìn

Năm 2012 là năm nhâm thìn. Theo thứ tự so le của 10 can và 12 chi cho mỗi năm (hay nói theo phép tính về số học thì mẫu số chung của 10 và 12 là 60) thì phải sáu mươi năm sau (2072) mới có một năm nhâm thìn nữa.  Hoặc đi ngược lại sáu mươi năm trước thì năm 1952 cũng là năm nhâm thìn). 

            Để cho dễ nhớ về can và chi cho mỗi năm, ai đó đã đặt ra bài thơ sau:

                        Mậu tý con chuột cống lang,

                        Hay tha trứng vịt xuống hang bỏ rày.

                        Kỷ sữu con trâu kéo cày,

                        Ngoài đồng hai buổi ăn rày cỏ khô.

                        Canh dần con cọp ngoài rừng,

                        Tiếng kêu vang lừng hay chụp bắt heo.        

                        Tân mẹo là con mèo ngao,

                        Hay kêu hay gào hay khóc hay than.

                        Nhâm thìn là con rồng vàng,

                        Những khi cần nước Ngọc Hoàng sai đi.

                        Quý tỵ con rắn ròng ri,

                        Ở dưới mương lạn mấy khi lên bờ.

                        Giáp ngọ con ngựa chạy mờ,

                        Nó đi một buổi mười giờ không sai.

                        Ất mùi con dê râu dài,

                        Cái đuôi ngúc ngoắc, cái đầu có chông.

                        Bính thân con khỉ rừng vong,

                        Cái đít chai ngắt, đầu không có sừng.

                        Đinh dậu là con gà rừng,

                        Có mỏ có mòng hay gáy ó o.

                        Mậu tuất là con chó cò,

                        Hay nằm cạnh lò lổ mũi lọ lem.

                        Kỷ hợi con heo ăn hèm,

                        Mấy khi cúng tế chả nem đủ dùng.

            Cứ theo thứ tự của can và chi, sau năm kỷ hợi, sẽ là năm canh tý, tiếp theo là năm tân sửu và cứ thế tiếp tục ghép tên cho những năm liền sau theo thứ tự của thập can và thập nhị chi.

           

Con Rồng Trong Văn Hóa Vùng Đông Và Nam Á

 

Dân Việt chúng ta hãnh diện là giống dân con rồng cháu tiên. Theo truyền sử, vua Lạc Long của chúng ta là con của rồng.  Vua cưới nàng Âu Cơ là con của Tiên trên trời.  Do đó có thành ngữ long phụ tiên mẫu hay là cha rồng, mẹ tiên.

Trong văn hóa của những nước thuộc Đông và Nam Á Châu, rồng được coi là một trong bốn con vật thiêng: Long, lân (kỳ lân), quy (một loại rùa), phụng (hay phượng, một loại chim).  Rồng và lân là con vật  được người tưởng tượng ra và xem là vật linh. Quy và phụng là động vật có thật trong thiên nhiên và được linh thiêng hóa.

 

            Sách sử đã ghi nhận về rồng từ nhiều ngàn năm về trước.  Rồng được xem là có nguồn gốc từ con cá sấu và con rắn (hình vẽ có vảy dày, và thân mình thon dài uốn khúc như con rắn).

            Vì nguồn gốc phát xuất từ cá sấu, một con vật của miền đầm lầy, nên có người cho rằng ý niệm và hình dáng của rồng phát xuất từ miền Nam Á Châu, rồi sau đó mới truyền về phương Bắc, và hội nhập vào văn hóa Hán (Trung Quốc).  Sau đó một thời gian lâu hình rồng mới Tây du để hiện diện ở Âu Châu với những bức hình rồng có cánh, và chiều dài thân rồng ngắn hơn nhiều.

           Con rồng của Đông và Nam Á là một con vật có vảy, có chân với móng vuốt nhọn, mình dài, sống dưới nước, nhưng cũng biết bay lên trời, và còn khả năng phun lửa và phun nước. 

            Vì rồng, một con vật linh thiêng nên nó tượng trưng cho nhà vua, phò hộ, và che chở cho nhà vua. Đối với một số người, nó tượng trưng cho một hay nhiều điều như sự trang nghiêm, sự vui mừng, sự khôn ngoan, hay sự may mắn, và thành công v.v. 

 

            Các quốc gia ở châu Á cách đây năm thập niên là những quốc gia chậm tiến về kinh tế.  Trong ba thập niên gần đây, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, và Singapour đã thăng tiến vượt bực trong lãnh vực kinh tế, và có sức mạnh kinh tế rất đáng kể.  Ngành truyền thông thường gọi những quốc gia nầy là: “Năm Con Rồng” của Á Châu.  Nhưng còn xuất hiện một con “khủng long” khác mà cả vùng Á Châu đang lo lắng đối phó.  Nó đang quậy phá trên vùng Biển Đông (phần Tây của Thái Bình Dương) và muốn giành Biển Đông làm của riêng.  Đó là Trung Quốc. Sức mạnh kinh tế của nó đã đem nó lên hàng cường quốc kinh tế số hai trên hoàn cầu, chỉ sau có “đại long” ở Mỹ Châu là Hoa Kỳ.

            Trở lại với Việt Nam:  Bao giờ Việt Nam mới thành một con rồng kinh tế ở Á Châu???

 

Hình Rồng, Tượng Rồng Ở Việt Nam

 

Hình rồng có mặt trong hầu hết các di tích cổ ở Việt Nam.  Kinh thành Huế và các lăng tẩm của các vua Nguyễn, và các kinh đô xưa của Việt Nam trước thời Nguyễn đều có hình rồng.  Hình rồng còn có mặt ở các đền, chùa (Phật Giáo), nhà thờ (Công Giáo), thánh thất (Cao Đài), các đình làng, những nơi thờ phượng các danh nhân, hay các công thần.  Nó còn có mặt trong nhiều cơ sở thương mại, và trong nhà dân chúng, giàu hay nghèo, qua những bức tranh, tác phẩm sơn mài, đồ sứ, hay trang hoàng trên bàn, ghế, dụng cụ âm nhạc v.v.  Chữ rồng và chữ long (trong nghĩa rồng, vì long còn có nghĩa khác) còn có mặt trong ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích hay chuyện thần thoại Việt Nam.

 

            Hiện tại, ngay trong vùng Sài Gòn Mới ở Quận Cam, bang California, tên chánh thức là Little SaiGon hay Sài Gòn Nhỏ, rất nhiều cơ sở Việt Nam có trang hoàng hình rồng hoặc tượng rồng.

            Cơ sở tôn giáo:

 

Chùa Bảo Quang: Hình Rồng Trên Lư Hương Đồng Trước Tượng Phật Thích Ca

 

Trung Tâm Công Giáo: Hình Đầu Rồng Trên Mái Nhà

Thánh Thất Cao Đài: Rồng Vòng Quanh Cột

 

Đài Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại: Hình Rồng Chạm Trên Gốc Gỗ Quý

 

(Tất cả hình bên trên đều gần trung tâm Little Sài Gòn, thuộc Orange County)

 

           Chùa Bảo Quang, trên đường New Hope góc Hazard; Chùa Quán Thế Âm đường Magnolia, góc Lampson; chùa Dược Sư đường Magnolia, góc Katella; Trung Tâm Công Giáo, đường Century, giữa Harbor và Westminster ; Thánh Thất Cao Đài đường Orangewood, góc Dale, v.v. đều có chạm trổ hình rồng trên nóc, trên tường, trên cột hoặc trên các bộ lư hương.

           Một số linh mục mặc lễ phục có hình rồng khi hành lễ trong những dip lễ đặc biệt như Giáng Sinh, Phục Sinh, lễ cưới, lễ thượng thọ v.v.

Theo tín ngưỡng Cao Đài, hai mươi tám con rồng, chạm nổi vòng quanh hai mươi tám cột trụ trong Thánh Thất, tượng trưng cho Nhị Thập Bát Tú hay hai mươi tám vì sao trên trời.

            Các cơ sở thương mại:

          Nhà hàng lớn như Long Phụng Lầu ngày xưa, bây giờ là SeaFood Cove #2, có sân khấu rộng tiện dụng cho tiệc cưới.  Trên tường ngay sau sân khấu có treo hình rồng và phụng.  Cặp hình Rồng Phụng nầy là biểu tượng của câu long phụng hoa chúc, câu chúc chồng vợ hạnh phúc. Cặp hình Rồng Phụng còn được chạm trên những cặp đèn cầy dùng để thắp trên bàn thờ trong ngày cưới.

            Vài nhà hàng khác có hình chạm hai con chim: chim phụng (trống), và chim loan (mái) biểu tượng của câu loan phượng hòa minh, sắt cầm hảo hiệp. Câu nầy có nghĩa chim loan và chim phụng hót cùng âm điệu, và đờn sắt cùng đờn cầm hòa nhạc với nhau nghe rất hay. Nghĩa bóng là chúc cho cô dâu và chú rể sống hòa hợp nhau.

            Quán bún bò Thành Nội (trên đường Euclide, góc Hazard) có chưng một bầu và một đĩa sứ.  Trên đĩa có hình rồng. Trên bầu có hình “lưỡng long tranh châu” rất đẹp.

Hiệu ăn Song Long,có vẽ cặp rồng bay thẳng lên giữ hai chữ Song và Longcó mặt lâu năm ở Sài Gòn Mới trên đường Bolsa khu Lê LợiCenter, giữa Bushard và Moran. Dân Bolsa biết nhiều về Song Long với món “ bún suôn” hay “suôn”, và nhiều món ăn Pháp rất ngon.

Hột Vịt Lộn Long An cũng là một địa điểm đặc biệt ở trung tâm Bolsa.Hiệu vịt lộn nầy có hai tiệm. Hai nhà hàng cùng mang tên Thăng Long nằm góc Bolsa và Bushard nổi tiếng về phở và cơm tấm. Gần Tết hay mùa Trung Thu là nghĩ ngay đến hiệu bánh mứt Bảo Hiên Rồng Vàng đường Magnolia, góc Westminster. Những bánh mứt sản xuất ở đây đều có nhãn hiệu lưỡng long tranh châu.

Trong thủy sản có tôm rồng hay tôm hùm, mọi người đều thích. Tên Tàu của nó là tôm rồng nhưng dân ta hay dân gốc Tàu nói tiếng Việt đều gọi nó là tôm hùm.

Các vườn cây có bán trái Thanh Long (thường có vỏ màu hồng hay đỏ).  Tên gọi Thanh Long do thân cây màu xanh có hình uốn khúc giống hình rồng. Cây Thanh Long thuộc dòng họ Xương Rồng. Thêm vào còn có loại nhãn nhỏ hột, cơm dầy, rất ngọt, có tên là Long Nhãn.  Hoa Xương Rồng, tên khoa học Euphorbia mylii splendens, còn được dân ta gọi là Hoa Tứ Quý, vì bốn mùa đều có hoa.  Tên Hoa Xương Rồng, có lẽ phát xuất từ thân và nhánh, có dáng như ngón tay và có nhiều gai. Có một loại đậu tên đậu rồng, và tên khoa học là Psophocarpus tetragonolobus . Loại đậu nầy rất dòn khi còn tươi, ăn rất ngon với “tôm kho”hoặc mắm. Tuy nhiên đậu rồng ít có mặt ở các chợ vùng Bolsa, có lẽ vì có quá ít trái ở mỗi gốc dây leo, số thu hoạch quá kém, giá đắt khó bán.

            Bác sĩ Đông y Thomas Trọng Võ bào chế dầu gió hiệu Con Rồng Xanh.

 

            Chúng tôi có bộ sơn mài Bát Tiên du ngoạn trên sông bằng thuyền rồng. Theo truyền thuyết Trung Quốc, Bát Tiên là tám vị có tên sau đây: Hớn Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quả hay Quày, Tào Quốc Cựu, Lữ Đồng Tân, Hà Tiên Cô, và Lâm Thái Hòa.  Ngoài ra có một số nhạc cụ thật, hoặc nhạc cụ mẩu để trang hoàng trên tường, có chạm hình rồng bằng vỏ ốc thật công phu.

           

      

Giai thoại nói lái về con Rồng Air VN

Trước năm 1975, dấu hiệu của hãng hàng không “Air VN” là hình con rồng uốn khúc.  Có một thời gian, không biết các cô tiếp viên phi hành có tư cách hống hách với khách hàng thế nào mà các vị viết báo đã cho Air VN một cái nick name (tên riêng hay biệt danh) để đời là Air Rồng Lộn.  Họ cũng gọi các cô tiếp viên hống hách là các cô rồng lộn.  Tưởng một thời gian ngắn rồi mọi sự kiện sẽ bị quên lãng.  Nhưng khốn nỗi cứ 12 năm thì có một năm thìn, tức năm con rồng, cái nick name nầy lại được viết ra trên báo xuân, thành ra có thể nói đây là tiếng lái được các báo nhắc đến nhiều nhất, một tiếng lái để đời về con rồng của dân Việt

 

Chữ Rồng và Long trong Thành Ngữ, Ca Dao

 

            Rồng bay, phụng múa: Chỉ nét chữ viết trông đẹp mắt. Rồng đến nhà tôm: Người giàu có sang trọng đến thăm nhà người nghèo khó, thấp hèn.  Rồng gặp mây, cọp gặp gió:  gặp thời cơ thuận tiên, có thể ăn nên làm ra.  Rồng vàng trao vuốt: Nhận được sự giúp đỡ hay sự đỡ đầu của người khác và do đó làm ăn khá hay có thêm quyền lực thêm.

 

            Ca dao: 

Rồng chầu ngoài Huế

Ngựa tế Đồng Nai

Nước sông trong, sao lại chảy hoài

Thương người xa xứ lạc loài tới đây.

Rồng vàng tắm nước ao tù

Người khôn ở với người ngu bực mình.

Rồng chầu Biển Bắc

Phụng múa Hà Tiên

Anh thương em, gặp mặt thương liền

Tỉ như Lữ Bố, Điêu Thuyền thưở xưa.

Rồng nằm bể cạn phơi râu

Mấy lời anh nói giấu đầu, hở đuôi.

Rồng giao đầu, phượng giao đuôi,

Nay tui hỏi thiệt: mình thương tui không mình?

 

Long đầu xà vĩ hay đầu rồng đuôi rắn có nghĩa bóng là lúc đầu làm ăn thạnh vượng, sau bị suy thoái. Cũng có nghĩa lúc đầu tỏ ra hăng hái, hoặc hung hăng, nhưng khi gặp khó khăn hay người mạnh hơn, thì lại nản lòng hay trốn chạy.

            Long hành hổ bộ hoặc long tướng hổ bộrồng đi cọp bước: Chỉ tướng đi tốt, oai phong.  Long tinh hổ mãnh: Khôn ngoan như rồng, mạnh mẽ như cọp; còn chỉ người khôn ngoan và khỏe mạnh.  Long vân hội,hộirồng gặp mây, chỉ cơ hội tốt.   Long phụ tiên mẫu hay con rồng cháu tiên (đã nói bên trên).  Lưỡng long tranh châu:  Hình hai con rồng uốn khúc trước một trái châu (hay một vật hình tròn) thường diễn tả sự đối xứng trong nghệ thuật họa hay chạm hình rồng.

            Trong những ngày lễ lớn của Việt Nam, còn có múa lân và múa rồng với tiếng trống và tiếng phèng la.

           

Chữ Rồng Long trong Địa Danh

 

            Hàm Rồng thuộc tỉnh Thanh Hóa.  Long Hưng, thuộc tỉnh Thái Bình, nơi có lăng tẩm các vua nhà Trần. Thăng Long là tên cũ của thủ đô Hà Nội. Theo truyền thuyết, Lý Thái Tổ (vị vua đầu tiên của nhà Hậu Lý), tên Lý Công Uẩn, khi dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La vào năm 1010, thấy rồng vàng bay lên trời, nên truyền lệnh đổi tên thành nầy ra Thăng Long, và đổi tên Hoa Lư, thủ đô trước đó của nhà Đinh, thành Trường An Phủ.  Hạ Long, tên vịnh thuộc biển miền Đông của Bắc Phần Việt Nam, vừa được đề nghị là một trong bảy kỳ quan hiện đại của thế giới cho năm 2011.  Cửu Long: Tên Việt Nam của sông Mékong.  Vì sông uốn khúc và chảy ra biển bằng chín cửa, nên có tên là Cửu Long (chín con rồng).         

            Kim Long: một vùng gần kinh thành Huế, nổi danh có nhiều thiếu nữ xinh đẹp. 

Ca dao:

                        Kim Long có gái mỹ miều,

                        Trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi.

 

Long Thọ: nằm ở phía Tây của Huế, nổi tiếng vì có rất nhiều vôi, có nhà máy nước và nhà máy vôi. Xưa kia, vua Gia Long đã lập lò làm đồ gốm ở đây. Ông dùng thợ người Tàu Quảng Đông chuyên sản xuất ngói “lưu ly” dùng để lợp các cơ sở, cung điện trong thành Huế. Lò gốm nầy còn làm các loại gốm tráng men, và các loại gạch có hình rồng, hình chữ thọ, để xây tường. Sau nầy, lò gốm bị đóng cửa vì hết nhu cầu, và nhà máy biến chế vôi được dựng lên.

Ca dao:

Chừng nào Long Thọ hết vôi

Cửu Long hết nước, anh thời quên em.

 

            Long Biên: Tên chiếc cầu do người Pháp bắc ngang qua sông Hồng, và có tên là Paul Doumer, tên của vị Toàn quyền Đông Dương khi cầu được khánh thành. Sau được đổi tên thành cầu Long Biên. Đây là chiếc cầu lớn và dài nhất Việt Nam trong thời Pháp thuộc.

Ngày xưa trong cuộc tranh quyền với nhà Nguyễn-Tây Sơn, Chúa Nguyễn Ánh đã bôn ba qua rất nhiều vùng thuộc đồng bằng Đồng Nai-Cửu Long.   Dân Miền Nam xem Chúa Nguyễn như một ông vua.  Do đó không có gì ngạc nhiên khi miền Đồng Nai-Cửu Long (tên xưa là Lục Tỉnh, và nay gọi là Nam Bộ) có nhiều địa danh có chữ Long do Nguyễn Ánh chỉ định hoặc do dân chúng địa phương đặt ra vì sự có mặt của Nguyễn Ánh.

            Ví dụ vùng Nước Xoáy (sau nầy có tên mới là Hồi Oa), gần Sa Đéc, có ba làng với tên Long Hưng, Long Hậu Long Thắng.

            Vùng Nước xoáy nầy còn có Cây Đa Bến Ngự, vì theo truyền thuyết, Nguyễn Ánh ngồi ở gốc đa cạnh bờ sông nhiều lần để thảo luận chiến sự với các phò tá (chữ “ngự” có nghĩa vua, cũng có nghĩa là ngồi trên cao). Ở tỉnh Châu đốc có một quận mang tên Hồng Ngự. Ngày trước vùng nầy thuộc quyền Cam bốt và có tên là Kompong Luông  (có nghĩa là “bến vua” hay là “bến ngự”).  Sau khi vua Cam Bốt dâng vùng nầy cho Chúa Nguyễn, vùng nầy có tên mới là Hồng Ngự. 

            Chúng ta còn có:

            Bình Long, Phước Long, Long Thành, Long Hải, Long Điền, Long Bình, Long Giao, Long Khánh: những địa danh thuộc vùng Đông Bắc Nam Phần Việt Nam. Long Hải có bãi biển cát trắng rất đẹp, lại còn nổi tiếng về nhãn, và mảng cầu ta. Long Giao từng được chánh quyền cộng sản dùng làm trạm thanh lọc các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trước khi chuyển đi các trại học tập; trong lúc Long Bình dùng thanh lọc các công chức hành chánh. Long Bình còn được dân Miền Nam biết đến nhiều vì lúc Hoa Kỳ còn ở Việt Nam, có lập một kho đạn rất lớn ở đây.

            Long An, Long Xuyên, Vĩnh Long là tên ba tỉnh ở Nam Phần.  Hàm Luông hay Hàm Long, tên một nhánh sông thuộc hệ thống Tiền Giang (một trong những nhánh của sông Cửu Long, chảy ngang qua Bến Tre). Long Mỹ, Thới Long, tên hai quận thuộc tỉnh Phong Dinh. Long Toàn, quận của tỉnh Vĩnh Bình v.v.

Xin nhắc lại là chúa Nguyễn Ánh trên đường lưu vong đã có một số vợ không chánh thức ở “LụcTỉnh”.

            Điểm đặc biệt là những con Rồng triều Nguyễn có đến ba Long Nữ sinh ra ở vùng đồng bằng Cửu Long được Rồng Nam sắc phong hoàng quý phi hay hoàng hậu: Bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng; bà Từ Dũ vợ vua Thiệu Trị; và bà Nguyễn Hữu Thị Lan vợ vua Bảo Đại. Theo lệnh của vua Gia Long, các vua Nguyễn không được dùng danh xưng “hoàng hậu” để phong cho bà vợ chánh. Chỉ riêng Bà Nguyễn Hữu Thị Lan được phong tước là Nam Phương Hoàng Hậu, vì vua Bảo Đại không tuân theo lệnh của vua Gia Long.

 

Rồng Long Vua

 

Người xưa tin rằng con rồng là con vật bảo vệ nhà vua, hay là tướng tinh của người sắp được làm vua hay đang làm vua.  Vua Bảo Đại có viết một quyển hồi ký có tựa là “Le Dragon D’Annam” bằng tiếng Pháp. Một vị hoàng tộc dịch sách ra tiếngViệt với tựa sách “Con Rồng Việt Nam”.   Như vậy vua Bảo Đại tự coi mình và các vua trước Ông là những con rồng (rồng là vua).

Theo nguyên tắc của Phong Thủy và Ngũ Hành trong việc tìm vị trí tốt cho các thành quách, nhà cửa, lăng mộ, thì việc tìm kiếm nầy là một bước đầu rất quan trọng.   Dưới chế độ quân chủ, công việc nầy gọi là việc tầm long (tìm rồng).  Khu đất có long mạch (mạch rồng) là một khu đất tốt theo phong thủy tầm long nầy.  Địa thế tốt nhất của vùng long mạch gọi là hàm rồng.

Trong đền rồng, nơi vua làm việc, có bệ rồng là bệ trên đó có đặt cái ngai rồng hay ghế lớn dành riêng cho vua ngự khi giải quyết việc triều chính.

 

Huế, kinh đô của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn, có cửa chánh hướng về phương Nam, hướng tốt cho vua và các quan.  Theo kinh Dịch của Trung Hoa dùng trong phong thủy thì các vua chúa, và các bậc hiền tài phò vua phải ngồi trong ghế hướng về phía Nam để nghe tiếng nói của dân, và có đường lối cai trị tốt.   Cách kinh thành Huế khoảng hai dặm có núi Ngự Bình án ngữ, một yếu tố tốt trong phong thủy.  Thêm vào, trước mặt kinh thành còn có Cồn Dã Viên phía mặt, và Cồn Hến phía trái tương ứng với hai yếu tố hữu bạch hổ (bên mặt có cọp trắng), và tả thanh long (bên trái có rồng xanh) trong phong thủy.  Nói cách khác, khu đất và kinh thành Huế đã có đủ những yếu tố của một long mạch và hàm rồng.

Về địa thế phòng thủ, kinh thành Huế có hệ thống hào nước sâu bao quanh. Thêm vào, còn có sông Hương ở trước mặt và hệ thống sông đào bao quanh bên ngoài hệ thống hào.  Trong thời điểm của đầu thế kỷ thứ 19 thì đây là một địa điểm phòng thủ khá kiên cố, bảo vệ cho dân chúng sống trong nội thành, nhà vua và hoàng tộc.

 

Long và vua

Chữ long, có nghĩa là con rồng liên hệ đến chữ vua một cách rộng rãi, mật thiết.  Hình rồng có mặt khắp các nơi trong kinh thành Huế, trong các lăng tẩm của các vua Nguyễn, tư thất, cùng đền thờ của các hoàng thân.

Trong tiếng Việt, những chữ Hán Việt dùng để chỉ tất cả những vật dụng của vua đều bắt đầu bằng chữ “long”.

            Long án là bàn viết của vua; long bào, áo vua; long cổn, áo lễ có thêu hình rồng; long kỷ, bàn nhỏ của vua; long sàng, giường của vua; long thuyền hay long châu, thuyền của vua đi, còn gọi thuyền rồng; và long xa là xe của vua v.v.. 

            Để chỉ sắc diện, thân thể, và tướng mạo của vua thì có long nhan, long thể, long đình, dù trong khoa tướng số, long đình chỉ những người có tướng mạo kỳ dị. Trong dân chúng, khi vấn an sức khỏe bạn bè người ta đùa bằng câu: Long thể bất an, long nhan bất ổn. 

            Long Vương là thần mưa, thần nước.  Theo truyền thuyết, Long Vương cư ngụ ở long cung dưới biển, nhưng không ai biết mặt long vương ra sao, hay long cung ở nơi nào. 

            Theo chuyện xưa, long môn là nơi nước chảy mạnh, con cá nào vượt qua được thì hóa ra rồng.  Vì vậy người vừa thi đậu được gọi là người vừa vượt long môn hay qua cửa rồng, và do đó có thành ngữ cá hóa long.   Chữ long môn cũng được dùng chỉ người hiền tài, biết trọng nghĩa khí. 

Ca dao:

                        Bao giờ cho cá hóa long

                        Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.

 

            Long đầu hay đầu rồng chỉ thí sinh đậu đầu trong kỳ thi Đình, được cấp phát văn bằng tiến sĩ, và được phong tước trạng nguyên. Kỳ thi Đình do vua làm chủ khảo.   

            Long phi hay rồng bay, chỉ một người được lên ngôi vua, ví như rồng bay lên cao.  Long tiềm hay long bàn có nghĩa rồng ở ẩn náo, chỉ một người tài giỏi, có thể làm vua nhưng chưa có cơ hội lên ngôi.  Long bội tinh là một bội tinh cao quý của triều Nguyễn. Long vân có nghĩa rồng và mây, chỉ cơ hội tốt.  Long đầu xa vĩ hay xà vĩ, là đầu rồng đuôi rắn, chỉ những người ăn nói khoe khoang nhưng thật sự không có tài cán gì cả. Long mạchhaylong huyệtlà mạch đất có rồng hay khí thế của rồng trong đó. Nếu cất nhà hay xây mộ nơi đó, con cháu sẽ đạt danh vọng, được tiến thân, điều lành, hoặc giàu có. Phong thủy long mạch không chỉ là tin tưởng riêng của vua chúa, mà còn là tin tưởng của nhiều người trong dân gian.

Khu lăng mộ của dân nhà giàu mới ở Việt Nam nơi làng An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang, Huế vừa được xây cất gần đây, có vô số hình và tượng rồng đủ cỡ, đủ kiểu và đủ màu, chạm khắc khá công phu. Có thể nói chắc chắn là các lăng mộ nầy được dựng lên do sự tin tưởng về long mạch theo phong thủy.

           

            Trong động vật, long và hổ, hay rồng và cọp, thường đi chung vì được coi là hai con vật mạnh. Long hổ ở nghĩa bóng để chỉ cái gì tốt đẹp.  

            Long bàn hổ cứ hay rồng nằm cọp ngồi, chỉ chỗ có địa thế hiểm trở. Long hành hổ bộ, bước đi như rồng cọp, là bước đi của người có tướng tốt. Bảng long hổ là bảng ghi tên những người thi đậu.

Long Mã: tên con vật có đầu rồng mình ngựa. Nghe nói chùa Từ Đàm ở Huế, có một hình tượng của con vật tưởng tượng nầy. Long Mã có thể phát sinh từ ý tuởng phối hợp giữa văn minh sông nước của miền Đông Nam Á Châu như Việt Nam, và văn minh chăn nuôi (dùng ngựa) của miền đồng cỏ thuộc miền Bắc Á như miền Bắc của Trung Quốc, và vùng Mông Cổ).

 

            Có chuyện vui nói rằng đồng hồ của vua hiệu Longine, vua mua xe Toyota ở Longo, nơi vua tắm biển là Long Beach, và ông vua nhảy đầm giỏi gọi là vua Long Mắc.  Long mắc là gì?  Là lắc mong vì nhảy đầm thì phải lắc lắc cái mông (nói lái sai chánh tả chữ mong, không bị phạt).

 

            Cho đến năm 1945, vua Bảo Đại mới thoái vị, và lịch sử chế độ quân chủ chấm dứt.  Nói khác đi dân Việt Nam sống dưới sự thống trị của các con rồng Trung Quốc khoảng một ngàn năm.  Sau đó lại sống thêm gần một ngàn năm nữa dưới sự cai trị của những con rồng VN.  Chế độ quân chủ chiếm gần hết chiều dài của lịch sử Việt Nam.  Có lẽ vì vậy, trong tiếng Việt, dân ta dùng rất nhiều chữ (từ) để nói lên nhiều khía cạnh của dòng họ nhà “rồng”.

            Ngoài chữ vua và chữ long ra, có những chữ sau đây để nói về vua: hoàng, quân, vương, đế, ngự.  Nếu có cơ hội, chúng tôi sẽ bàn tiếp về chữ Vua và các từ liên hệ.

            Chúc quý vị luôn được tam an: An bình, an khang thịnh vượng, và an lạc trong suốt năm Nhâm Thìn Rồng Vàng.

                                                        

Huntington Beach Dec-21-2011

           

 

 

 

[Trở lại trang trước]

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates