Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

  Những Đệ Nhất Rồng Việt Nam

Cưới Long Nữ gốc Đồng Nai - Cửu Long

                                                        TS. Nguyễn Hữu Phước

            Có câu hỏi cần có câu giải đáp về những Rồng Huế hay những vua Nhà Nguyễn là: Có bao nhiêu Long Nữ gốc Đồng Nai – Cửu Long, ĐN-CL, trở thành Hoàng Quý Phi, hay Phi Tần của các Rồng Nhà Nguyễn và được cấp Cung Phòng trong Hoàng Thành Huế?

 

            Rồng Nhà Nguyễn Ba Long Nữ Chánh Cung 

 

            Vua Minh Mạng - tại ngôi 1820-40: Vị vua thứ hai của triều Nguyễn có “Đệ nhứt Giai Phi” (Chính Cung, hay vợ chính, nhưng không được phong như vậy vì lệ “ngũ bất lập” như đã nói),  là Bà Hồ Thị Hoa dân miền ĐN-CL. Theo mạng lưới www.vietnamgiapha.com,  thì Bà là con Ngài Chưởng Cơ Hồ Văn Bội.  Lăng của Bà hiệu là Hiếu Đông Lăng, phía tả lăng Đức Thiệu Trị.  Thêm vào, dân ĐN-CL đã cử tên Bà nên đã dùng chữ “Bông” để thay thế cho chữ “Hoa” (bông bí, bông điên điển).

            Ở vùng không xa chợ Sài Gòn có cây cầu tên Cầu Bông thực sự trước đó có tên Cầu Hoa Bắc, đã được đổi tên, vì lý do vừa nói.  Xin nói thêm là tục cử tên những người “tên tuổi”, những viên chức công quyền từ cấp làng xã, cho đến trung ương, rất thạnh hành ở Lục Tỉnh ngày xưa.  Thí dụ “ánh sáng thành “yến sáng” vì vua Gia Long (trị vì 1802-1840) tên “Nguyễn Ánh”.

            Lẽ dĩ nhiên tục cử tên hầu như phổ quát cho cả VN ngày xưa: Ở Huế, chợ Đông Hoa đã thành chợ Đông Ba, và tỉnh Thanh Hoa trở nên tỉnh Thanh Hóa.  Không hiểu vì sao rất ít sử sách viết đến Đệ Nhất Giai Phi nầy.  Vị nào có tài liệu về Bà, xin soi sáng giùm.

          Vua Thiệu Trị - tại ngôi 1841-1847: Vị vua thứ ba, có Đệ nhứt Giai Phi tên Phạm Thị Hằng, dân Gò Công dòng dõi của ông Phạm Đăng Hưng.  Con bà là vua Tự Đức. Cha chồng làm vua, chồng làm vua, và con làm vua.  Đây là cô gái ĐN-CL có một, không hai trong lịch sử nước Việt.

            Có thể nói đây là người đàn bà đặc biệt nhất của triều Nguyễn, cũng như của lịch  sử đế chế ở VN. Bà đã là vợ của hoàng tử Miên Tông, sau nầy là vua Thiệu Trị.   Thiệu Trị băng hà, con trai là hoàng tử Hồng Nhậm lên ngôi, niên hiệu Tự Đức trị vì từ năm 1848 đến năm 1883.  Sau khi Tự Đức qua đời, Bà còn có mặt và chứng kiến sự phế, lập, hưng, suy, trong sáu đời vua tiếp theo của triều Nguyễn: Dục Đức,(vua 3 ngày), Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và Thành Thái. Giai đoạn phế lập bốn vị vua sau Tự Đức là khoảng thời gian đen tối nhất của triều Nguyễn. Bà được mọi người trong triều Nguyễn kính trọng, nhưng bà không tham dự vào việc cai trị, và do đó không có quyền hành gì cả trong việc phế lập.   Bà mất vào năm Thành Thái thứ mười ba (1901) thọ 90 tuổi.   

            Nói khác đi, Bà là dâu của vua Minh Mạng trước khi trở thành Đệ Nhất Giai Phi của vua Thiệu Trị. Bà đã có mặt trong 9 đời của 13 vị vua triều Nguyễn, từ thời vua Minh Mạng cho đến vua Thành Thái. Tước hiệu cuối cùng của Bà là Bác Huệ Thái Hoàng Thái Thái Hậu  do vua Đồng Khánh phong tặng với tất cả sự tôn kính.

            Vua Bảo Đại, tại ngôi từ năm 1926 đến năm 1945, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cưới vợ dân Gò Công,  và phong vợ làm Nam Phương Hoàng Hậu như vừa nói bài trước. 

            Tóm lại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và Bảo Đại, những Công Dân Hạng Nhất gốc Miền Trung, những Con Rồng của Nhà Nguyễn, đã làm “Rể Quí” của Miền Đồng Nai – Cửu Long. 

            Gái miền nào đẹp nhất và có thể trở thành, “dâu thảo, mẹ hiền” trong mắt những “đấng Quân Vương” nầy?  Không phải trả lời câu hỏi đó. Ca dao đất Thần Kinh có câu:

                        Kiêm Luông có gái mỹ miều

                        Trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi.

Một bạn già đề nghị bắt chước câu trên với đôi chút thay đổi:

                        Cửu Long có gái mỹ miều

                        Trẫm thương trẫm cưới, trẫm yêu suốt đời.

            Các bạn còn biết vua Nguyễn nào nữa cưới vợ Miền Đồng Nai – Cửu Long, xin cho tôi hay để thêm vào danh sách đặc biệt nầy, thành thật cảm ơn.  Tôi hỏi câu vừa qua vì chính Vua  Bảo Đại viết:

 “Trong Triều Đình nhà Nguyễn, việc tìm kiếm phi tần cho vua thường thường hướng vào miền Nam, so với miền Trung hay xa hơn nữa là miền Bắc, đối với triều Nguyễn miền Nam là miền đất hứa.” (Bảo Thái, trích  trong “Con Rồng Việt Nam” của Bảo Đại)

  • Có bao nhiêu bà Thứ Phi gốc ĐN-CL?

            Bên trên chúng tôi đã có kể ra được ba Long Nữ người gốc Đồng Nai – Cửu Long  làm vợ chánh (chánh cung) hay đệ nhất giai phi (hoàng hậu) của Rồng Nhà Nguyễn.   Đó là Bà Hồ thị Hoa, vợ vua Minh Mạng;  Bà Phạm thị Hằng vợ vua Thiệu Trị, và bà Nguyễn Hữu Thi Lan vợ vua Bảo Đại.  Ngoài ra theo tài liệu của Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ, chúng ta còn thấy có năm bà thứ phi gốc ĐN-CL. 

            Vua Minh Mạng còn có ba Long Nữ thứ phi người miền ĐN-CL:

Bà Nguyễn thị Bảo, được phong tước Thục Tấn, người Gia Định.  Con của Ông Quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu.  Bà sinh được một Hoàng Tử là Miên Thẩm, và ba công chúa là Vĩnh Trinh, Trinh Tân, và Tỉnh Hòa.  Về sau cả bốn người con nầy đều trở thành những nhà thơ nổi tiếng ở thần kinh với các biệt hiệu Tùng Thiện Vương, Quy Đức, Mai Am và Huệ Phố, đã để lại cho đời nhiều bài thơ rất giá trị.

Bà Nguyễn Thị Khuê, tự Bích Chi, tước phong  Hòa Tấn người Huyện Phú Lộc, Tỉnh Gia Định; con gái của Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ Tỉnh Quảng Nam.  Bà sanh được bốn Hoàng Tử và sáu Công Chúa.

Bà Nguyễn Thị Xuân, tước phong Cung Tấn, người Gia Định.  Con gái Chinh Đội Nguyễn Văn Châu.  Bà sinh được một Hoàng Tử là Miên Ký, người giỏi văn chương dưới triều Tự Đức, được phong làm Cẩm Quốc Công.   

            Vua Thiệu Trị:  Ông có một người vợ thứ,  gốc ĐN- CL:

Nguyễn Thị Nhâm, tước phong Lệnh Phi, người An Giang.  Con của Quận Công Nguyễn Văn Nhân.  Bà Nhâm được tuyển vào cung cùng một thời gian với Bà Phạm Thị Hằng, nhưng vì Bà chỉ sinh hạ được . . . An Thạnh Công Chúa, nên chỉ được phong tước Lệnh Phi.”

             Vua Tự Đức - tại ngôi 1847-1883 : Ông có một thứ phi miền ĐN-CL:

Bà Nguyễn Thị Hường, được phong tước Học Phi, người Vĩnh Long.  Bà không có sinh được con nên nhận công tử Ưng Đăng, làm con nuôi.  (Sau nầy khi vua Hiệp Hòa bị phế, Ưng Đăng được tôn lên làm vua lấy hiệu Kiến Phúc.)

Như vậy trước sau có tám bà gốc ĐN-CL đã cư ngụ trong nội thành Huế với tư cách là vợ vua :Bốn người của Minh Mạng, hai người của Thiệu Trị, một của Tự Đức, và một của Bảo Đại.  Các bạn còn biết ai khác xin bổ túc giùm.  Đa tạ.

. Các bà thứ phi của Rồng Bảo Đại: Một trường hợp độc đáo trong triều Nguyễn

Khi Bảo Đại lên ngôi, ông ký giấy bỏ tục đa thê và dẹp bỏ tam cung lục viện đã có dưới các đời vua trước.  Nhưng sau khi đã thoái vị, ông cũng có một số long nữ làm vợ không chánh thức, và một người “vợ hai”, có đám cưới, nhưng không có long nữ nào trong nhóm nầy, thuộc vùng ĐN-CL. Những quyển sách viết về ông hoặc về các long nữ nầy, đều dùng chữ ‘thứ phi” để chỉ các bà vợ thứ đó. Theo thiển ý, chữ “thứ phi” không được chính xác cho hoàn cảnh của cựu hoàng, vì ông không còn làm vua nữa khi sống với các bà nầy.  Tuy nhiên vì chữ “thứ phi” đã được dùng trong các bài về cựu hoàng Bảo Đại, như là một vì “vua”, nên tôi đành tuân theo cách dùng đã “thông dụng” đó.  

Các bà nầy đã đến với ông, khi ông không còn làm vua nữa. Nhưng chắc là họ vẫn có hy vọng một ngày nào đó ông trở lại ngôi vị xưa?  Ba long nữ nầy, một gốc miền Bắc, một gốc Trung, và người cuối cùng chôn cất Ông là một người gốc Tây (Pháp).  Sau đây chúng tôi viết lại thật sơ sài về ba long nữ nầy theo tài liệu của Hàn lâm Nguyễn Phú Thứ.

-Bà Bùi Mộng Điệp:

Sau khi Bảo Đại thoái vị, thành công dân Vĩnh Thụy và được mời ra Hà Nội làm Cố Vấn cho Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy sống ở Hà Nội.  Trong lúc Nam Phương Hoàng Hậu và các con ở lại nội thành Huế, có người đã giới thiệu bà Mộng Điệp với ông.  Không lâu bà trở thành vợ thứ của ông một cách không chánh thức.  Năm 1946, Mộng Điệp sanh một gái tên Phương Thảo.

Năm 1949 Vĩnh Thụy về VN với chức vụ Quốc Trưởng VN và đặt văn phòng ở Đa Lạt.  Một thời gian sau, Mộng Điệp từ Hà Nội vào Đà Lạt. Sau đó, bà lại về cư ngụ ở Ban Mê Thuột, với nhiệm vụ quản trị Hoàng triều Cương Thổ - vùng đất trên cao nguyên mà Pháp dành riêng cho triều Nguyễn.  Vào 1953 khi chiến tranh Việt Pháp leo thang và lan rộng, Cựu Hoàng giao nhiệm vụ cho bà đem  ấn kiếm và một số báu vật của triều Nguyễn qua Pháp chuyển lại cho Nam Phương Hoàng Hậu.

Bà định cư luôn ở Pháp.  Không biết liên hệ giữa bà và Cựu Hoàng ra sao trong thời gian ông ta, và bà đều cùng  ở Pháp, nhưng trong thời gian nầy ông ta sống với “thứ phi” Monique, sẽ nói ở đoạn sau.

-Bà Lê Phi Ánh.

            Khi Quốc Trưởng Bảo Đại vừa về VN và đặt văn phòng ở Đà Lạt, Thủ Hiến Trung Phần Phan Văn Giáo đã giới thiệu bà Phi Ánh cho Quốc Trưởng  trong lúc bà Nam Phương còn ở Pháp, và bà Mộng Điệp còn ở Hà Nội.  Bà Phi Ánh có sanh 2 người con với  quốc trưởng tên Phương Minh và Bảo Ân.  Năm 1953 quốc trưởng sang Pháp và không trở về VN nữa.  Năm 1954, bà Phi Ánh tái giá với một nhà thầu khoán và có thêm một con trai với chồng sau. Bà mất năm 1987 ở VN.

-Bà Monique Baudot.

Không lâu trước khi ông qua đời vào năm 1997, cựu hoàng Bảo Đại trả lời trong một cuộc phỏng vấn là ông đã gặp  được bà Monique qua sự giới thiệu của những bạn bè.  Ông cưới bà Monique vào tháng 10, 1972 tại Pháp (Bà Nam Phương Hoàng Hậu đã từ trần từ năm 1963). Bà Monique là người vợ thứ hai và là người sau cùng sống với Cựu Hoàng  trong  hơn 25 năm, nhưng lại không có người con nào với Ông. Ông cũng nói là sau nhiều năm sinh sống cô quạnh, nhờ bà nầy mà Ông đã tìm lại được cuộc sống “an nhàn, thanh tịnh”. 

Tóm lại, theo cựu hoàng Bảo Đại, thì ông chỉ có 2 người vợ có đám cưới:  Long nữ Nguyễn Hữu Thị Lan và long nữ Monique Boudot.  

Thời gian mười hai năm đầu của cuộc đời hôn nhơn (1934 - 45), ông sống rất hạnh phúc với long nữ Nam Phương Hoàng Hậu.  Mặc dầu không có thực quyền cai trị đất nước, nhưng ít ra ông còn ngồi trên ngai vàng và trong sự cung phụng xa hoa của nhà vợ.   Những năm kế tiếp (1945-55), ngoài những sóng gió chánh trị trong giai đoạn nầy, ông còn gây ra nhiều sống gió về tình cảm trong hôn nhân vì ông sống với nhiều bà khác, ngoài Mộng Điệp và Phi Ánh.  Ông đã vi phạm một trong những điều cam kết của ông với Nguyễ Hữu Thị Lan trước khi cưới bà làm Hoàng Hậu là “giữ luật một vợ một chồng”.

Thời gian 25 năm cuối của cuộc đời ông (1972-97), không ngai vàng, không tiền bạc, ông lại có cuộc sống “an nhàn và thanh tịnh” với người vợ hai, không con.

Theo thiển ý, cuộc đời của Rồng Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn, thật là một cuộc đời khá độc đáo.  Điểm cần nói:  Ông là con Rồng “thọ” nhất (1913-1997 = 84 tuổi) trong các con Rồng của vương triều nhà Nguyễn.  Phải chăng sự “sống lâu” nầy là nhờ hai lý do:  Thứ nhất là trong mỗi thời gian khác nhau của cuộc đời ông, ông chỉ sống với một bà mà thôi.  Thứ hai là ông đã giữ đúng lời cam kết khác với Nam Phương Hoàng Hậu: Giải tán tam cung lục viện; và do đó không có chuyện hoang dâm vô độ.

 

Tài liệu tham khảo

A - Những Emails (Tư liệu)

Phan Tấn Tài (2005). “Emails gởi Nguyễn hữu Phước” về một số tài liệu liên quan đến các câu ca dao trong bài “Đồng Nai Cửu Long: Những câu ca dao”

B - Tài liệu truyền khẩu: Một số câu ca dao do các “bạn già” cung cấp.

C - Sách và Đặc San

-Bảo Thái, (1999). Một thời hoàng tộc, (tập II), Nxb Kinh Đô, Texas, USA.

-Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (1970). Việt Nam Tự Điển. Khai Trí xb., Saigon, VN.

-Nguyễn Hữu Phước, (2004). “Từ vua trong tiếng Việt”, Tiếng Việt đa dạng,

-Southeast Asian Culture and Education Foundation, California, USA.

-Nguyễn Phú Thứ (2003). Tìm hiểu vua Bảo Đại . Tác giả XB, Lyon,Paris.

-Vương Hồng Sển (1995). Hơn nửa đời hư . Văn Nghệ Xb. California, USA

 

  

[Trở lại trang trước]

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates