Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

TÌM HIỂU GIẢI THOÁT và CỨU ĐỘ
GS Nguyễn Hữu Phước

 GS Nguyễn Hữu Phước

Bài 1

Dẫn Nhập

Hòa hợp tôn giáo

Trong bảy tám Năm vừa qua (2004-2012), sinh hoạt tôn giáo trong các cộng đồng có khuynh hướng tìm hiểu các tôn giáo bạn qua những buổi thuyết trình liên tôn hoặc những buổi cầu nguyện liên tôn với sự tham dự của nhiều chức sắc thuộc nhiều tôn giáo khác nhau. Khuynh hướng chung là tìm hiểu nhưng điểm tương đồng để nâng đỡ nhau; và tìm hiểu những điểm dị biệt để hòa hợp nhau, nương tựa nhau hơn là chỉ trích nhau.  Trong chiều hướng đó, với sự hiểu biết  hạn hẹp của tôi về cả hai tôn giáo, tôi tìm đọc và tìm hiểu sự giải thoát trong Phật giáo và ân cứu độ trong Công giáo.  
Tôi viết ra theo như sự hiểu biết vừa thâu nhận. Tôi xin cảm ơn các tác giả của những tài liệu ghi ở phần tham khảo. Trong phạm vi của một bài sưu khảo ngắn, tôi chỉ có thể ghi ra một cách rất sơ lược những điểm mà tôi nghĩ là quan trọng.  Chắc chắn là còn thiếu sót rất nhiều. Có vô số sách đã viết về hai tôn giáo nầy.  Nếu có những điểm mà sự diễn đạt không đúng như những tài liệu đã đọc, xin tác giả và quí độc giả sửa chữa giùm, tôi rất cảm ơn vì được học hỏi thêm.

Giải thoát hay Cứu độ:
một mục tiêu của bất cứ một tôn giáo nào

            Với sự hiểu biết thông thường, chúng ta đều biết rằng bất cứ tôn giáo nào cũng có nói đến sự an vui, hạnh phúc lâu dài của con người.  Sở dĩ có tôn giáo là vì có những vị muốn cứu độ, và vì con người có nhu cầu nương tựa vào tôn giáo.  
            Sự thật rất hiển nhiên mà hầu hết chúng ta, những người có theo một tôn giáo, hay không theo một tôn giáo, đều nhìn nhận là cuộc đời nầy đầy thử thách, dẫy đầy những đau khổ về thể xác như nghèo đói, bệnh tật; và cuộc đời cũng không thiếu những khổ đau về tâm lý do cuộc sống phức tạp gây nên, hay do hậu quả của những khổ đau về vật chất mà có.  
           Thêm vào, ai ai cũng nhận biết là cuộc sống của nhân loại tràn đầy tội lỗi, nhỏ hay lớn, vô ý phạm tội hay cố ý gây điều lầm lỗi, hoặc có những hoàn cảnh đưa đẩy con người đến tội lỗi một cách ngoài ý muốn, tức không vô ý mà cũng không cố ý, hay nói cách khác, phạm tội mà không biết mình phạm tội.  
               
           Rõ ràng dưới mắt người thường như chúng ta, có hạnh phúc và có đau khổ, có việc làm đúng và có việc làm sai trái với lương tâm hay không đúng với lề luật xã hội.  
           “Đời là bể khổ” và đời là tội lỗi.  Những người nghèo đói thì khổ vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men khi bênh hoạn; họ cũng bị những cơn oằn oại về tâm lý do những xung khắc nội tại.  Người sống đầy đủ, người giàu có, cũng không tránh khỏi những khổ đau vật chất vì những tai nạn làm cho thân thể sứt mẻ, hoặc phải chống chỏi và phải chịu sự dày xéo của các bệnh nan y mà khoa học và y học, trong công việc “cứu độ” nhân loại theo nghĩa rộng, vẫn phải bó tay.  Rồi những chuyện gia đình không giải quyết ổn thỏa, như ly dị, nuôi con hay phá thai, hay dưỡng thai v.v… đều là những chuyện đưa đến đau khổ về tinh thần hay vật chất (khi vấn nạn đưa đến bạo hành trong gia đình).  
            
            Hơn thế nữa, có những chuyện to lớn hơn, ngoài lãnh vực kiểm soát hay điều khiển theo ý muốn của cá nhân. Trước hết có thiên tai như lũ lụt, động đất, núi lửa, bão tố. Kế đến có chiến tranh vì tham vọng của những kẻ độc tài muốn thống trị số đông, hay muốn thi hành những ý kiến quá khích của một cá nhân nào đó. Họ đi tàn phá thân xác, nhà cửa của người khác như trường hợp khủng bố.  Họ tạo ra bất công, đau khổ, vì những ý tưởng độc đoán của họ.
       
            Tóm lại bên cạnh cuộc sống sung sướng, hạnh phúc và lương thiện còn có thực tế đáng được lưu tâm: Đời là bể khổ, đời là tội lỗi. Vì có khổ đau, vì có tội lỗi mới có tu tập giải thoát, mới có ân cứu độ.   

Tóm tắt về Giải Thoát và Cứu Độ
    
           Theo Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên tìm ra phương cách giải thoát khổ đau qua những năm dài suy ngẫm về nguyên nhân của khổ đau.  Ngài rao giảng lại cho chúng sanh những gì Ngài đã cảm nghiệm qua sự Giác Ngộ.  Ngài giảng cho chúng sanh với tư cách của một vị Tôn Sư.  
            Theo Ngài, mỗi con người trong chúng sanh có thể giải thoát mình ra khỏi bể khổ trầm luân.  Người nào cũng có thể tu tập, để tinh tiến, để đi tới mục tiêu cuối cùng là sự Giác Ngộ, tức sự thông suốt trí tuệ và nhìn thấy Hạnh Phúc Trường Cửu. Ngài giảng dạy cho con người tự cứu độ.  
            Kinh sách về phương pháp tu tập để tiến mục tiêu cuối của con đường giác ngộ rất nhiều.  Phải để ra nhiều thời gian để tu tập. Mức độ được tự giác, hay mức độ thoát khỏi sự khổ đau tùy thuộc vào sự cố công tu tập của mỗi cá nhân.

            Theo Công Giáo, Đức Giêsu Kitô là con của Chúa Cha, đấng toàn năng đã tạo lập nên vũ trụ và loài người.  Chỉ có Ngài mới cứu độ được con người ra khỏi tội lỗi và khổ đau.  
             Nhưng mức độ cứu độ cũng tùy thuộc vào con người vì con người có tự do trong việc chấp nhận hay từ chối Hồng Ân cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.  Muốn được cứu độ để sau khi chết, trở về Nước Chúa và sống đời sống hạnh phúc vĩnh cửu, con người phải hợp tác với Chúa Giêsu Kitô.  Con người phải đón nhận tình thương của Chúa Cha qua Chúa Giêsu Kitô.  Hãy luôn cầu nguyện Chúa khi gặp những khó khăn trong đời sống để  được Chúa giúp đỡ, an ủi và sẽ  tìm thấy sự  bình an tâm hồn.
             Với sự giúp đỡ của Chúa Giêsu Kitô và sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần, con người phải từ bỏ tội lỗi, sống thánh thiện, thương người, làm những việc cụ thể để cho xã hội thăng tiến, và sẽ được cứu độ khi ngài chung thẩm đến với thế gian.

Bài 2
Giải Thoát theo Phật Giáo
                                                            
Phần A:
Khổ đế,Tập đế, và Diệt đế
(Phân đoạn về Đạo đế sẽ bàn ở Bài 3)
                                     
            Thái Tử Siddharta của một vương quốc thuộc Bắc Ấn Độ, đã nhiều lần chứng kiến, trầm tư mặc tưởng và thấy được những khổ đau của con người.   Ngài đã bỏ nhung lụa, quyền lực và gia đình, để ra đi và sống trong sự cô tịch để nghiền ngẫm về cuộc đời vô thường.  Ngài đã “Giác Ngộ” và đã thành Phật vì Ngài đã thấy được và sống được cái cảnh “vi diệu” của trạng huống không đau khổ (2). Ngài đã sống ở trạng thái “Niết Bàn”.

           Phật có nghĩa là chứng ngộ, giác ngộ, do trí huệ được sáng suốt sau thời gian tu tập lâu dài. Chữ Phật (viết hoa) để chỉ Đức Thích Ca, người đầu tiên trong kiếp này tự cứu độ mình ra khỏi thế giới khổ đau.  
           Sau khi giác ngộ, Đức Phật đã chia sẻ lại những gì Ngài đã nhìn thấy được sau hơn mười năm suy ngẫm. Ngài không phải là một tiên tri, hay đại diện cho một đấng quyền năng nào khác.  Ngài cũng không phải là vị thần thánh tối cao có quyền năng cứu độ. Ngài chỉ là vị Thầy, chỉ dẫn lại cho chúng sanh những gì Ngài đã thấu triệt trên con đường tự giải thoát khỏi sự khổ đau. Mỗi người trong chúng ta, theo lời dạy của Ngài, đều có thể tu tập và thành Phật được.   
        
Tứ Diệu Đế

           Đế, dịch nghĩa của paramartha (Sanscrit); hay paramattha (Pali) = sự thật, “chơn lý thường hằng và đứng đắn”, tuyệt đối và vĩnh cửu.
          Đức Phật đã thuyết pháp về bốn sự thật của cuộc đời để cứu độ con người.  Bốn sự thật đó còn được gọi là bốn chân lý cao quí hay “Tứ Diệu Đế”.

           Tứ Diệu Đế gồm có: Khổ đế (Đau khổ), Tập đế (nguồn gốc của đau khổ), Diệt đế (sự diệt bỏ đau khổ), và Đạo đế (con đường đi đến sự chấm dứt hoàn toàn các đau khổ).  Tác giả V.F. Gunaratne (3) có viết nhiều về Tứ Diệu Đế.

           Bốn chân lý nầy làm thành một hệ thống lý luận chặt chẽ, “một toàn thể nguyên vẹn, điều hòa, một đơn vị nhất định, hợp lý rõ ràng, phải cùng đi chung cả bốn, không thể ít hơn, cũng không nhiều hơn” (3).  

          Tứ Diệu Đế được xem như nồng cốt của Phật Pháp trong con đường giải thoát chúng sanh.  Hiểu được hay quán triệt được bốn chân lý nầy, con người sẽ thoát khỏi những xung khắc triền miên làm chấn động tinh thần, hoặc làm cho tinh thần xuống dốc và đi đến tình trạng tuyệt vọng.  Hiểu được sự đau khổ thì mới có thể mong thoát khỏi sự đau khổ.             

Đau khổ là một sự thật đầu tiên

           Phật Pháp bắt đầu bằng sự giảng thuyết về đau khổ.  Theo kinh nghiệm bình thường của hầu hết mọi người thì đau khổ có mặt thường xuyên trong mọi giai đoạn tăng trưởng của con người.  Phật Pháp giảng rằng sanh, già, chết và tất cả những bệnh tật về thể xác hay tinh thần, tâm hồn đều là đau khổ (sanh, lão, bệnh, tử).  Đau khổ bao gồm tất cả những sự không ổn định trên thế gian nầy, vì cuộc sống thật sự là một cuộc sống vô thường mà trong đó những sự xáo trộn nối tiếp nhau không ngừng.  

            Một số lớn chúng ta tránh né sự đau khổ và từ chối hay dối lòng rằng không có đau khổ.  Khi có những tiện nghi của đời sống, và với những hạnh phúc đã có, chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta có thể vượt qua những hoàn cảnh khó khăn một cách dễ dàng. Nhưng thực tế không như vậy. Chính những người được hưởng nhiều hạnh phúc hay đầy đủ tiền tài, tiện nghi, là những người dễ rơi vào đau khổ nhất, vì họ phải cố gắng nhiều hơn để bảo tồn những gì mà họ đang có.
           Nói tóm lại khổ đau là một sự thật tồn tại, độc lập với sự hiểu biết của con người, dù có nhận ra được chân lý đó hay không. Nhưng thế nào là một con người?
           Con người là một thân xác gồm năm giác quan chánh: thấy, nghe, ngửi, nếm, và cảm xúc.  Năm giác quan chánh của con người tương ứng với năm cảm giác trên là mắt, tai, mũi, lưỡi, và da. Năm cơ quan đó thuộc về xác thịt, phải có cảm giác hay nhận thức thì mới “biết” được.  
           Những cái biết ấy chỉ hoạt động trong phạm vi thiên nhiên tự có (trời ban) như mắt thấy, tai nghe. Cơ quan nào, nhiệm vụ đó.  Nhưng phải có một cái gì phối hợp các “thức” (biết) ấy lại.  Cái có khả năng phối hợp đó gọi là cái “Ý Thức”, hay cái tâm, hay cái hồn của con người.  Khi cái ý thức ấy hoạt động và cho ta nhận biết về cái ta (như khi thức giấc, nhận ra chính mình) thì gọi là “Ngã Thức”.
            Nhưng còn một cái gì khác ở trên cả bảy thức trên, Phật Giáo gọi nó là “Tâm Thức”.  Nó chứa đựng tất cả những hạt giống để sinh ra các thức khác.  
           Sự hiện hữu của mỗi con người trong cộng đồng là một tương quan ảnh hưởng lẫn nhau vì cái tâm thức, cái ý thức của người nầy ảnh hưởng đến người kia.  Khổ đau của người nầy, do đó cũng ảnh hưởng đến người khác.

Nguồn gốc của khổ đau là sự thật thứ hai

             Theo giáo lý Phật, nguồn gốc của khổ đau là do sự ham mê sắc dục (Ái Dục), sự bám víu vào những sự vật trên trần gian như quyền lực, tiền của, danh vọng.  
             Muốn mà không thực hiện được sẽ dẫn đến khổ đau, vì khuynh hướng tự nhiên của con người là không muốn dừng lại ở những gì mình có, mà chỉ muốn đạt được nhiều hơn.  Yếu tố tham muốn mọi việc được cho phần mình (vị kỷ) đã đưa đến những hậu quả tai hại cho con người. Như vậy Ái Dục là nguồn gốc của khổ đau vì nó làm cho con người mê muội.
            Phải chuyển sự mê muội thành sự hiểu biết, sự nhận thức được nguồn gốc của khổ đau. Nhận thức được một cách rõ ràng gọi là Giác Ngộ. Giác Ngộ mới có thể giải thoát bản thân ra khỏi cái mê muội, cái tình trạng Vô Minh, thiếu sáng suốt, để đi dần đến cái tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn.  

             Trạng thái hoàn hảo tuyệt đối, gọi là Chân Như hay Niết Bàn, hay Hạnh Phúc Vĩnh Cửu.  

Diệt ái dục là sự thật thứ ba

            Muốn tới Chân Như, muốn diệt sự khổ đau thì phải cố gắng trải qua những giai đoạn sau đây: xa lánh ái dục, từ khước ái dục, cố gắng tự giải thoát mình ra khỏi ý tưởng liên quan đến ái dục, và dứt khoát từ bỏ ái dục.  
           Tất cả các giai đoạn trên đều đòi hỏi một sự cố gắng không ngừng trong sự chiến đấu với chính bản thân mình trước những cám dỗ của thế giới vô thường bên ngoài và sự thúc đẩy của ái dục ở chính trong ta.  Phật Giáo dạy rằng chúng ta có thể tách rời ái dục ra khỏi cái ta và khỏi cuộc hành trình trong đời sống của cá nhân.  
        
          Với sự tinh tấn trong việc tu tâp diệt ái dục, chúng ta lần lần có thể kiểm soát những ý muốn. Kết quả trực tiếp là kiểm soát được ý nghĩ và hành động: Tránh những ý nghĩ xấu, nuôi dưỡng những ý nghĩ tốt và có những hành động tốt.  
           Khi chúng ta diệt được ái dục, chúng ta sẽ có một trạng thái an tịnh trong tâm hồn. Tình trạng lo âu, sợ sệt, buồn nãn, bồn chồn, hoảng hốt sẽ không còn nữa. Tâm hồn thảnh thơi sẽ tránh được sự buồn rầu, thất vọng, bất mãn, giận hờn, cô đơn, tuyệt vọng.  Trong việc tu tập để diệt khổ, tùy sức cố gắng của mỗi người, sẽ đạt được nhiều cấp bực sáng suốt khác nhau.  Càng chấm dứt được nhiều khổ đau, càng tiến gần về phía Hạnh Phúc Vĩnh Cửu.  Muốn vậy, phải theo con đường tu tập.

Bài 3
Giải Thoát theo Phật Giáo
                                                 
Phần B:
Đạo Đế hay là Con đường chấm đứt khổ đau, chân lý thứ tư:
(Trung Đạo hay Bát Chánh Đạo)

           Phật Pháp không là giáo lý của một tôn giáo, mà là giáo lý của một cuộc sống.  Phật nhận ra một con đường gọi là “Trung Đạo” để giúp chúng ta theo đó mà diệt mọi khổ đau, và được giải thoát. Trung Đạo giúp con người thông suốt về cuộc sống vô thường.
            Trung Đạo gồm có nhiều yếu tố quan trọng mà những người tu tập cần học hỏi kỹ càng.  Các yếu tố đó đều có tác dụng hỗ tương với nhau và đã là những điều thông thường mà những người học Phật đều nghe giảng thường xuyên. Chỉ khác nhau là mực độ hiểu biết và hoàn cảnh áp dụng của mỗi người khác nhau nên sự tiến bộ khác nhau.
 
          Trung Đạo gồm có tám yếu tố được gọi là “bát chánh đạo”.  Những yếu tố đó là: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định. Những yếu tố nầy là một tập thể phức tạp trong tâm thức của con người.  Phân tích và đặt tên để dễ nhận biết và để học hỏi tu tập.

       Để cho việc tu tập dễ dàng hơn, người ta chia Bát Chánh Đạo ra làm ba nhóm.

       A. Nhóm đầu tiên là nhóm “giới”.  
         Nhóm nầy gồm có Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng.  Ba yếu tố nầy thuộc về đời sống hạnh kiểm của con người. Những yếu tố nầy biểu hiện cụ thể ra bên ngoài và người khác có thể quan sát được.

       Chánh Ngữ là lời nói phải đàng hoàng, đứng đắn, nghiêm chỉnh. Con người phải dùng những lời nói để diễn tả những điều hay cái đẹp, không làm người khác buồn lòng hay bị thiệt hại, hoặc khốn đốn vì lời nói của mình.  
       Chánh Nghiệp là hành động đúng đưa đến những kết quả tốt cho mình và cho người khác như làm việc thiện, có hiếu với cha mẹ, thương mến và nhường nhịn anh em trong nhà, đối xử tốt với bạn bè.
       Chánh Mạng là sống một cuộc sống ngay thẳng.  Mặc dầu cuộc sống đầy dẫy những đấu tranh, chen lấn, nhưng ta phải cố gắng sống con đường chơn chánh, sống đời sống trong sạch, giữ cho phẩm hạnh của mình được cao trọng.

        B. Nhóm thứ hai gọi là nhóm “Định”.  
         Định gồm có: Chánh Tin Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.  Các Chánh Đạo nầy thuộc về phần trí tuệ. Chúng nó nằm ẩn bên trong cái tâm trí của con người, nhưng nó ảnh hưởng đến con người một cách sâu xa, rộng lớn.

           Chánh Tinh Tấn là sự phát triển về tâm, phát triển trong chiều hướng tiến bộ, hướng về cái tốt.  Chúng ta phải luôn tập luyện cái tâm thế nào cho khỏi bị giao động trước ngoại cảnh, giữ cho tâm luôn được hướng thiện, hướng lành, hướng về an tịnh, về sự tinh tiến, phát triển hơn là bị lôi kéo vào cuộc sống phức tạp, mâu thuẫn.
           Chánh Niệm là sự ý thức đúng về tất cả những gì xảy ra trong cơ thể chúng ta, từ thân xác cho đến trí tuệ, tinh thần, tình cảm, tâm lý và tâm linh.  Trong mỗi trạng thái của cái tổng hợp phức tạp đó, ta phải giữ cho ý thức được minh mẫn, quan sát được rõ ràng, và giữ cho tâm được an tịnh.  Với sự an tịnh của tâm, ta có thể kiểm soát, lưu ý tới những ý nghĩ, lời nói, việc làm; tất cả sẽ được cân nhắc kỹ càng để đưa tới những kết quả tốt đẹp hơn cho cuộc sống.
            Chánh Định là trạng thái cao hơn của Chánh Niệm.  Ta có thể giữ tâm ta chú trọng vào một phạm vi nhỏ hẹp, nhưng sâu xa hơn.  Với Chánh Niệm, tâm ta có thể dẹp qua một bên tất cả những gì không cần thiết cho đề tài mà cái tâm đang chú trọng.  Nói khác đi, cái ý thức của ta được tập trung vào một vấn đề mà chúng ta muốn học hỏi, không bị chi phối, giao động do ngoại cảnh.

       C.  Nhóm chánh đạo thứ ba gọi là nhóm “Tuệ.”
           Nhóm Tuệ gồm có Chánh Kiến và Chánh Tư  Duy.

           Chánh Kiến là sự tu tập chơn chánh để thấy chơn lý của sự khổ đau.  Khi nhận thức rõ ràng được chân lý, thì ái dục sẽ tự tan biến khỏi tư tưởng. Với Chánh Kiến, con người có thể nhìn bao quát được cuộc sống vô thường, phân biệt được cái chính, cái phụ, cái quan trọng, và cái tầm thường của cuộc đời phức tạp. Nhờ đó mới thấy được cái nguyên nhân của khổ đau.  
               Chánh Tư Duy là sự thành thật suy xét, là tư tưởng chân chánh.  Tư tưởng rất quan trọng vì thường có trước lời nói, hay hành động. Tư tưởng có thể ảnh hưởng đến số động khác nếu tư tưởng đó phát ra từ một người có quyền năng trong xã hội.  Con người khác các loài vật khác là ở điểm tư tưởng.  Chánh Tư Duy là điều cần thiết quan trọng vì nếu thiếu nó, ngôn ngữ và hành động của con người bị lôi kéo vào vòng Vô Minh.  Chánh Tư Duy giúp người sống bình thản, đạo đức hơn.  

               Tóm lại muốn được giải thoát ra khỏi vòng khổ đau, con người phải tu tập theo Bát Chánh Đạo trong Trung Đạo*.  

               Theo Phật Giáo Tiểu Thừa (Nam Tông, hay Phật Giáo Nguyên Thủy) mỗi người phải tự cố gắng tìm sự giải thoát cho chính mình, vì chỉ có chính mình mới giải thoát mình ra khỏi đau khổ.

               Theo Phật Giáo Đại Thừa (Bắc Tông) thì những người đã tinh tấn trong sự tu tập, cũng có thể giúp cho người khác trong vấn đề giải thoát, bằng cách dạy lại những gì mình đã giác ngộ được. Lẽ dĩ nhiên người tiến xa nhất trên đường giác ngộ, người đã cảm nhận được trạng thái hạnh phúc tuyệt đối, hay Niết Bàn, là Phật Thích Ca. Nói khác đi, muốn được giải thoát, con người phải tìm hiểu, học hỏi, tu tập những gì Đức Phật đã giảng dạy.             
               
          [(*Có rất nhiều kinh Phật dùng để học hỏi và tu tập: Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật** [xem số (5) Tài Liệu Tham Khảo], Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa hay Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Vô lượng thọ , Kinh A Di Đà Kinh, Kinh Quán Vô lượng thọ, và nhiều bộ kinh khác.)]

        Chú thích: **Trong quyển kinh lớn nầy có một phần nhỏ mang tên Bát-Nhã Tâm Kinh (BNTK).  Đường Tam tạng dịch bài BNTK nầy ra Hán văn gồm 260 chữ Hán. Những bản do người VN dịch ra từ chữ Hán gồm 260 chữ Hán Việt. Thiện Nhật Huỳnh Hữu Hồng (5) dịch sang tiếng Việt, cũng dùng đúng 260 chữ (nhưng rất ít chữ Hán Việt) dễ nhớ cho ai muốn niệm kinh nầy bằng tiếng Việt.

    [(Bản Hán văn và Hán Việt vẫn dùng chữ “bát nhã” thay vì dùng “trí huệ” có lẽ họ muốn giữ nguyên âm chữ Prajna đễ diễn tả ý nghĩa cao thâm của chữ nầy.  Hơn nữa, “trí huệ” có thể bị nhầm lẫn với trí tuệ.  Thêm vào bài BNTK cũng vẫn dùng “Bát nhã Ba la mật”.)]

    Bài Bát Nhã Tâm Kinh là một bài mà hầu hết các Phật tử đều thuộc lòng và đọc sau các khóa lễ Phật (trong các chùa Bắc Tông) vì BNTK kinh đã tóm gọn các giáo lý quan trọng trong Phật giáo. BNTK phân tách thân tâm nầy ra làm năm uẩn, sáu căn, mười tám giới, qua các nguyên lý cao thâm về Tánh Không, Mười Hai Nhân Duyên,Tứ Diệu Đế, Bồ Tát Đạo, v.v., cho đến các cảnh giới bên ngoài như Niết Bàn, quả vị Vô Thượng Bồ đề.  
Ai thấu hiểu, tu tập, và thể hiện được những lời dạy trong BNTK  thì người đó có thể tiến rất xa trên con đường giác ngộ và giải thoát..  

          Xin ghi lại sau đây bản tiếng Việt của Thiện Nhật để làm tài liệu.

         “Khi Bồ-tát Quán-Tự-Tại chuyển pháp Bát-nhã Ba-la-mật *, soi thấy năm uẩn đều rỗng-không, vựợt qua mọi khổ nạn.
          Xá-lợi-tử ! Sắc chẳng khác Không Không chẳng khác Sắc; Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.  Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.
          Xá-lợi-tử! Tướng không các pháp nầy: chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
                 
          Nên trong tánh Không:

-    chẳng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức;
-    chẳng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý;
-    chẳng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;
-    chẳng có nhãn giới,  . . . cho đến ý-thức-giới;
-    chẳng có vô-minh cùng hết-vô-minh . . .cho đến
       chẳng có già-chết cùng hết-gia-chết;
-    chẳng Khổ, Tập, Diệt, Đạo;
-    chẳng trí cùng chẳng đắc.


           Vì chẳng có chỗ chứng-đắc, Bồ-tát liền nương theo pháp Bát-nhã Ba-la-mật, nên tâm chẳng ngại, tất chẳng sợ-hãi, xa lìa mộng-tưởng điên-đảo, đạt tới Niết-Bàn.
            Chư Phật trong ba đời cũng nương pháp Bát-nhã Ba-la-mật, được đạo-quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
             Phải biết pháp Bát-nhã Ba-la-mật là đại-thần-chú, là đại-minh-chú, là vô-thượng-chú, là vô-đẳng-đẳng-chú, trừ được mọi khổ, chơn-thật chẳng dối-hư
Nói pháp Bát-nhã Ba-la-mật là chú liền đọc chú rằng:
       Yết-đế! Yết-đế!  Ba-la-yết-đế! Ba-la-tăng-yết-đế
        Bồ đề tát bà ha!”

* Bát nhã Ba la mật có nghĩa gì?

A. Dịch âm

   1. Bát nhã: Chữ prajna được người TH dịch âm là  般 若 (HV đọc là bát nhã, còn đọc là ban nhược (ban = loại, giống; nhược = thuận theo).  Hai chữ bát nhã chỉ là mượn âm để đọc chữ prajna mà thôi.

   2. Ba la mật
1.Chữ ba la mật có nguồn từ chữ paramita (âm Sancrit) hay chữ pàramì (âm Pali). Cả hai Sancrit và Pali đều là phương ngữ của Ấn (India).
2. Chữ paramita , người Trung Hoa đã bỏ đi âm cuối và ghi lại cách đọc âm bằng 3 chữ Hán 波 羅 密và đọc là pa la mi [như chúng ta đọc âm chữ dol-lar của Mỹ và viết là đô la] (Theo lẽ  họ  phải âm là  pa ra mi. Nhưng vì Trung Hoa không có phụ âm “r”, nên dùng phụ âm “l” thay thế. Và do đó Tàu  đọc là  pa la mi thay vì pa ra mi).

   3. VN đọc ba chữ Tàu 波 羅 密 theo giọng Hán Việt (HV) là ba la mật.

B. Dịch nghĩa

   1. Bát nhã: Theo nguyên ngữ Ấn, dịch nghĩa là trí huệ.
Tuy nhiên kinh sách Trung Hoa và cả kinh sách Việt Nam, vẫn dùng “bát nhã ba la mật” có lẽ những chữ “dịch nghĩa” tuy ngắn gọn, nhưng không thể diễn đạt hoàn toàn ý nghĩa thâm sâu của hai chữ prajna paramita..

   2. Ba la mật
Nghĩa của từng chữ HV:  “ba” = sóng; “la” = lưới; và “mật” = dày hay kín đáo; nhưng viết chung thì ba la mật không có nghĩa gì cả, vì chỉ “mượn âm để đọc chữ parami(ta).  
Người Trung Hoa đã giải thích = dịch nghĩa chữ  “ba la mật” < parami(ta) =  到 彼 岸  (âm HV = đáo bỉ ngạn = đến bờ bên kia = đến bờ giác ngộ) hay toàn thiện, giác ngộ. Họ còn dịch nghĩa chữ paramita là 大 幸 đại hạnh = hạnh phước to lớn.

 

Bài 4
Ơn Cứu Độ trong Công Giáo
                                                    
Phần A:

Đại cương về Kitô Giáo, Hồng Ân,
Cứu độ và cuộc đời của Chúa Giêsu

Thiên Chúa giáo hoặc Kitô giáo hay Cơ đốc giáo; (LT: Christianus,  HL: Christianos;   Eng: Christian, Christianity)] là một tôn giáo có căn bản đức tin dựa vào cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô (Jesus Christ), như sự giáng sinh, sự rao giảng phúc âm , sự chết trên cây thập giá, và sự sống lại của Ngài.  
Cũng như các tôn giáo khác, một thời gian sau khi thành lập, Kitô giáo đã chia thành nhiều tông phái như: Chính thống giáo (Eastern Orthodox Churches), Công giáo (Kitô giáo La mã, Roman Catholism), Tin lành (Evangelism; trong phái Tin lành còn có rất nhiều hệ phái khác nhau); Anh quốc giáo (Anglicanism). Công giáo có số tín hữu đông nhất, khoảng một tỷ hai trăm triệu tín hữu.  

               Cứu độ trong Công Giáo, nhắm vào sự giải thoát con người ra khỏi vòng tội lỗi để sau khi chết, trở về Nước Trời, sống cảnh an bình vĩnh cửu;  và trong lúc còn sống ở thế gian, có đời sống thánh thiện hơn.  Nhưng ai có thể làm cái việc cứu độ đó?

                Theo quan niệm Công Giáo, con người không thể tự cứu độ mình được, mà phải cần đến sự trợ giúp của Đức Chúa Giêsu. Nguyên ngữ của chữ Giêsu là tiếng Do Thái “Yehoshua” có nghĩa là Thiên Chúa, là Cứu Độ.  Trong Công Giáo, các từ ngữ: Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ, Chúa Cứu Thế đều có cùng một nghĩa: Đó là con của Chúa được Chúa gởi xuống thế gian làm người và chịu chết để cứu độ nhân loại tội lỗi và đau khổ.  
             
               Chúa Giêsu, con của Chúa còn được gọi là Chúa Giêsu Kitô (do nguyên ngữ La tinh Christus, hay nguyên ngữ Hi lạp Christos có nghĩa là người đã chịu sự xức dầu của Chúa và đã được cứu độ).  Do đó mà những người theo Công Giáo gọi nhau là Kitô hữu.
 
              Cũng như trong trường hợp của Phật Thích Ca, dân Việt đã thêm từ “Đức” vào trước từ Phật (Đức Phật) và trước từ Chúa (Đức Chúa Giêsu) là để tỏ sự tôn kính “chứ không có một ý nghĩa đặc biệt về tôn giáo, thần học” (1) vì từ “đức” cũng được dùng cho rất nhiều chức vị quan trọng khác trong xã hội.
            
Căn bản của việc cứu độ:
Quan niệm về “Hồng Ân”, Tội tổ tông

               Theo Công Giáo, Chúa là đấng toàn năng, hằng hữu, đã sinh ra vũ trụ và các loài vật khác, kể cả con người.
               Con người có tự do theo Chúa hay từ chối Chúa. Ý tốt đẹp của Chúa là muốn cho mọi người, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo, đều nhận được “Hồng Ân” của Chúa để sống đời sống thánh thiện, biết thương yêu nhau, biết giúp đỡ nhau.  Hồng Ân còn được gọi là Thiên Ân, hay Ân Sủng có tính cách siêu việt.  Chúa ban Hồng Ân cho con người, để con người có đời sống tốt đẹp.  Nhưng con người không có quyền đòi hỏi Hồng Ân.
              
               Con người có tự do lãnh nhận hay từ chối Hồng Ân. Muốn được lãnh nhận, con người phải luôn luôn hợp tác với Chúa qua Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần trước khi, trong khi, và sau khi nhận được bất cứ Hồng Ân gì của Chúa.  Do đó sự lãnh nhận nhiều hay ít là tùy theo mỗi cá nhân.

Tội tổ tông

              Tổ tiên của loài người, ông Adong và bà Evà đã lạm dụng sự tự do của Chúa ban phát, đã phạm tội chống lại ý Chúa, gây nên tội gọi là “tội tổ tông” khiến con cháu về sau phải mất Hồng Ân của sự thánh thiện nguyên thủy mà Chúa đã ban phát cho.  “Theo Thần Học Công Giáo, Bản Tính Tự Nhiên của con người không hoàn toàn hư hỏng, nhưng Bản Tính đó đã bị thương tích, bị suy nhược trầm trọng” (1) vì tội tổ tông. Bản Tính đó thay vì là thánh thiện, đã trở nên hư đốn, trở thành ghen ghét, thù nghịch, thay vì sống thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.  Tội ác do đó đã gia tăng, không những chỉ giữa những cá nhân, mà còn giữa những phe nhóm, những chủng tộc, hay giữa những quốc gia. Tuy rằng hiện tại có nhiều người không phạm tội, nhưng nhiều người khác vẫn còn đắm chìm trong tội lỗi. Kết quả của tội tổ tông là nhân loại phải hứng chịu khổ đau, sống trong sự mất mát Hồng Ân.

Chúa Kitô chịu nạn
chịu chết trên Thánh Giá

                Do tình thương của Chúa đối với loài người, Chúa mới đưa con của Chúa xuống thế  làm người  (do đó Công Giáo còn gọi Chúa Giêsu là Chúa Ngôi Hai, và Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba.  Đây là thuyết Nhất Thể, Tam Vị trong Công Giáo) để cứu độ nhân loại qua sự tử nạn.  

               Sự kiện lịch sử trọng đại trong sự cứu độ con người là sự kiện Chúa Giêsu Kitô chịu tử nạn trên cây Thánh Giá.  Sự tử nạn của Ngài đã được các vị tiên tri báo trước và đã có ghi trong Sách Thánh gọi là sách Cựu Ước.  Sách nầy ghi trước (tiên tri) tất cả những điều sẽ xảy ra cho cuộc sống của Chúa sau khi Ngôi Hai đã xuống thế làm người.  Cựu Ước là sự giao ước của Chúa với dân Do Thái.  Chúa  hứa sẽ thương yêu người Do Thái và dùng người Do thái để rao giảng lời Chúa; và ngược lại người Do Thái phải biết phục tùng và trung thành với Chúa.

              Kể từ ngày Chúa xuống thế thì Hồng Ân cứu độ của Chúa được gọi là Giao Ước Mới (Tân Ước): Qua trung gian của Chúa Giêsu, một bên là Chúa Cha sẽ ban Hồng Ân Cứu Độ cho nhân loại;  còn bên kia là nhân loại sẽ nhận lãnh sự Cứu Độ qua lòng tin vào Chúa Giêsu. Sách Tân Ước là Sách ghi lại những lời rao giảng của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là “Lời” của Chúa biến thành xác thịt con người và sống trong nhân loại .
        Sự kiện Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá có ý nghĩa là Ngài đã tuân theo ý muốn cao cả của Chúa Cha.  Ngài đã đem thân xác và máu của Ngài làm của lễ hy sinh để cứu chuộc cho tội lỗi của con người.  

Liên hệ mật thiết giữa cứu độ
và cuộc đời của Chúa Giêsu

             Theo Công giáo, việc cứu độ là một chuỗi dài của những sự kiện xảy ra trước thời Chúa Giáng Sinh, đã được diễn tả rất chi tiết trong các Sách Cựu Ước. Việc cứu độ đã tiếp tục thể hiện với cuộc sống của Chúa Giêsu.  Việc cứu độ sẽ tiếp tục mãi mãi, liên tục và hướng về Chúa Giêsu cho đến ngày Chung Thẩm.  
                 
             Trong ngày đó Chúa Cứu Thế sẽ phán xét công, tội của mỗi người trong nhân loại. Con Chúa xuống thế làm người để có nhân tính nhằm chứng tỏ sự thương yêu của Chúa Cha đối với nhân loại.
             Nhưng Chúa Giêsu luôn luôn mang thiên tính, vì Ngài có quyền năng cứu độ từ Chúa Cha.  Ai tin Ngài và nhận chịu Phép Rửa Tội sẽ được nhận làm con Chúa, và sẽ có đời sống hạnh phúc vĩnh cửu sau khi lìa bỏ thế gian.  Tất cả những hình thức hay nghi thức cứu độ trong Công giáo đều quây quần chung quanh cuộc sống của Chúa Giêsu và sẽ kết thúc với Chúa Giêsu.  Các điểm tựa lịch sử quan trọng liên quan đến Chúa Giêsu đều được diễn lại từ năm nầy qua năm kia đã được hơn hai thiên niên kỷ.  Ngày Giáng Sinh, việc thờ kính Đức Mẹ (Mẹ ở thế gian của Chúa Giêsu), Ngày Thánh Đản, Mùa Chay, Mùa Tử Nạn, Mùa Phục Sinh, sự Thăng Thiên, Mùa Thánh Thần Hiện Xuống, lễ mừng Ngày Chúa thành lập Giáo Hội v.v… đều được diễn lại với mục tiêu duy nhất và rõ ràng: Giúp cho con người sống với Chúa Giêsu, hợp tác với Chúa Giêsu, và trông cậy nơi Chúa Giêsu trong việc cứu độ.

Bài 5

Ơn Cứu Độ trong Công Giáo
                                          

Phần B:
Giáo Hội Công giáo và việc cứu độ

          Giáo Hội Công giáo hay còn gọi là Hội Thánh giữ vai trò giúp cho các Kitô hữu có mối tương quan chặt chẽ với Chúa Giêsu.  
Sau đây là tóm lược những niềm tin căn bản của các Kitô hữu.
Mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi vừa nói ở trên: Chúa Giêsu, con Chúa Cha xuống thế, qua phép của Chúa Thánh Thần, nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, sinh ra làm người, chịu nạn, chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, đã “phục sinh” và lên trời.  
Kitô hữu tin rằng đến ngày tận thế Chúa Kitô sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết (người tốt được vào nước trời hay thiên đàng, người xấu, bị phạt dưới hỏa ngục).  

Thêm vào, Kitô hữu tin vào bí tích Rửa tội để được thanh tẩy mọi tội lỗi, kể cả tội tổ tông; tin vào sự sống lại của thân xác (nhờ mầu nhiệm Chúa Kitô phục sinh).  

Ngoài ra Kitô hữu Công giáo còn tin vào Hội Thánh mà Nhà thờ chánh tòa ở thành phố Roma là “Hội thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền” (Chữ “công” trong “công giáo” được định nghĩa là “chung, phổ quát” (universal); (có đầu óc phóng khoáng, có tính cách phóng khoáng), nghĩa là dành cho hết mọi người trên trần gian chứ không là của riêng một dân tộc nào.).  Tất cả những niềm tin căn bản nầy được diễn tả đầy đủ trong “Kinh Tin kính”** (LT: Credo, Eng: Creed).  
(**Xin xem nguyên văn của Kinh Tin Kính, bằng tiếng Việt ở cuối bài.

Mười Điều Răn

Thêm vào, còn có “Mười điều răn” hay “Thập giới” (Ten commandments) là những giới luật mà ông Môisê (Moses) đã được Chúa trao cho trên núi Sinai (được khắc trên 2 bia đá và được ghi vào trong 2 bản Kinh Thánh.)  Vì hai bản văn được ghi vào 2 thời điểm khác nhau nên có chút khác biệt.  

Bản văn được Giáo hội Công giáo La mã phê chuẩn gồm 10 điều sau:


1. Thờ phụng một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự.
2.  Chớ kêu tên Người vô cớ.
3.  Giữ ngày chủ nhật (làm ngày nghỉ và là ngày thờ phượng Chúa).
4.  Thảo kính cha mẹ.    
5.  Chớ giết người.    
6.  Chớ làm sự dâm dục.   
7.  Chớ lấy của người.   
8.   Chớ làm chứng dối.   
9.  Chớ muốn vợ, chồng người.   
10. Chớ tham của người.

            Để giúp cho Kitô hữu trong việc cứu độ qua sự tương quan với Chúa Giêsu,  Hội Thánh giúp cho Kitô hữu biết rõ và sống đời sống Công Giáo qua bảy phép bí tích.  Các phép bí tích đều hướng về Chúa Giêsu Kitô. Các bí tích đó là: Bí tích Rửa Tội, Thêm  Sức, Thánh Thể, Hòa Giải, Truyền Chức Thánh,  Hôn Phối, và bí tích Xức Dầu.
         
              Bí tích Rửa Tội là bí tích đầu tiên khi một người gia nhập vào Công Giáo.  Bí tích nầy giúp cho người lãnh nhận, chia sẻ đời sống của Chúa Giêsu, xóa bỏ tất cả những lỗi lầm đã có từ trước.  Người nhận lãnh từ đây sẽ sống đời sống Chúa, một đời sống thánh thiện, biết yêu thương Chúa và biết yêu thương người đồng loại.  Nếu không sống được như vậy là đã phạm tội và không được cứu độ.

             Bí tích Thêm Sức thường được tiếp nhận ngay sau bí tích rửa tội của những người tân tòng. Với những trẻ con, bí tích thêm sức được thực hiện khi trẻ đã trưởng thành.  Như tên của bí tích, sự xức dầu trong buổi lễ sẽ tăng thêm sức mạnh của đức tin (vào tình thương và sự cứu độ của Chúa Giêsu) của người nhận lãnh.

            Bí tích Hòa Giải  còn gọi là bí tích Giải Tội. Sự Tha Tội cho con người là một sứ điệp quan trọng trong Giao Ước Mới.  Hội Thánh đã được thừa hưởng quyền năng nầy và do đó các Linh Mục được quyền thay mặt Hội Thánh, và cũng là thay mặt cho Chúa Giêsu để tha tội cho những người đi xưng tội qua Chúa Thánh Thần. Đây là một sự cứu độ trên phương diện tâm linh.

            Bí tích Truyền Chức Thánh  là sự đón nhận Hồng Ân của những người bằng lòng hy sinh cuộc sống riêng của mình để theo Hội Thánh, trở nên một thành phần nồng cốt trong sự cứu độ của Chúa Giêsu.  Ngoài sự đón nhận Hồng ân của chức Linh Mục, những vị nầy còn nhận được nhiều đặc sũng khác của Chúa Giêsu. Sau khi nhận Chức Thánh, các Linh Mục có nhiều nhiệm vụ, trong đó quan trọng hơn hết là dẫn dắt con người đi về nước Chúa.
 
             Bí tích Hôn Phối:  Gia đình là một Hội Thánh thu hẹp.  Nơi đó đời sống luân lý, đời sống tâm linh và đời sống hướng về cứu độ phải được thực hiện. Hai người hôn phối, sau khi nhận Hồng Ân Hôn Phối đã trở nên một.  Họ có bổn phận hướng dẫn con cái sống đời sống thánh thiện huớng về Nước Trời qua sự cứu độ của Chúa Giêsu.

            Bí tích Xức Dầu là Hồng Ân chữa lành của Chúa Giêsu, được thực hiện qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, đem lại sự bình an và sự chữa lành cho người nhận lãnh.  Chữa lành ở đây đồng nghĩa với sự tha tội.  
       
            Bí tích Thánh Thể là một bí tích quan trọng và phổ quát.  Bí tích nầy nhắc lại bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với các tông đồ. Các yếu tố trong bí tích nầy đã được ghi chép một cách trang trọng trong những quyển Thánh Kinh đầu tiên của Thánh Mattheo, Thánh Matcô, và Thánh Luca.  Trong phép Thánh Thể, bánh đã biến thành thân thể của Chúa và rượu đã biến thành máu Chúa.  
               Người hưởng bí tích nầy được hòa mình với Chúa Giêsu vì mình và máu của Ngài đã vào cơ thể của người nhận lãnh.  Mỗi tuần, ít nhất một lần vào ngày chủ nhật, người theo Công Giáo phải đến nhà thờ  tham dự Thánh Lễ và nhận bí tích nầy để chứng tỏ lòng thương yêu của mình đối với Chúa Giêsu và luôn nhớ rằng Chúa Giêsu cũng thương yêu con người và muốn cứu độ con người. Ngoài ra, các Kitô hữu còn đến tham dự lễ nầy vào những ngày quan trọng do Giáo Hội chỉ định như ngày Giáng Sinh, ngày Phục Sinh, lễ Thứ Sáu tuần thánh v.v…  Hơn nữa, nếu có thì giờ và do tự nguyện, Kitô hữu có thể tham dự Thánh lễ nầy hằng ngày.

Làm sao để được ân cứu độ

       Trước hết, như đã nói bên trên, theo đức tin Công Giáo, con người không thể tự cứu độ mình. Con người phải hoàn toàn tin tưởng và tin cậy vào sự thương yêu của Chúa đối với loài người.  Chúa Giêsu đã nói: “Ta đang sống và Ta đã sống lại. Ai tin Ta thì được sống mãi mãi”. Người Kitô hữu phải tin nơi ân cứu độ của Chúa Giêsu; phải luôn luôn nhận lãnh Chúa vào trong thân mình với đức tin nơi quyền năng tuyệt đối và sự hằng hữu của Chúa.

       Kế đến, con người phải sống đời sống của Chúa Giêsu, tức đời sống thánh thiện, tránh mọi tội lỗi vì tội lỗi đưa ta đi xa Chúa, chống lại ý muốn cứu độ của Chúa và ý muốn ban Hồng Ân của Chúa.  Con người muốn được ơn cứu độ phải biết sửa soạn tâm hồn để lãnh nhận Hồng Ân của Chúa qua các bí tích, nhứt là bí tích Thánh Thể, trong ấy con người hiệp thông với Chúa Giêsu, và trở về với Chúa để sống đời sống hạnh phúc.
    
       Tiếp theo, con người phải luôn luôn hợp tác với Chúa Giêsu, sẵn sàng dâng mình để đón nhận Chúa trong niềm tin cứu độ. Vì Chúa cho con người có tự do lựa chọn, con người dễ bị sự lạm dụng tự do và quên đón nhận Chúa.  Do đó việc tiếp nhận Chúa Giêsu vào thân thể và tâm hồn của con người là một việc liên tục, cho đời sống con người mỗi ngày mỗi thánh thiện hơn. Sống thật là sống theo tinh thần của Chúa Giêsu Kitô, và phải nói được rằng “chính Chúa Giêsu Kitô sống trong tôi”.  Lúc đó mới có thể nói rằng đó là đời sống thật.  

        Người Công Giáo tin vào sự giúp đỡ của Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần qua việc cầu nguyện.  Cầu nguyện cả Ba Ngôi và cầu nguyện với Đức Mẹ. Những lúc con người gặp khó khăn, gặp khổ đau, sự cầu nguyện là một hình thức cứu độ rất thực tế.  Cầu nguyện để Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần giúp cho sự bình an tâm hồn, sự sáng suốt trí tuệ để giải quyết những khó khăn.  Cầu nguyện giúp cho được Hồng Ân cứu độ, đặc biệt là Hồng Ân Chữa Lành.  Ngay trong Thánh Lễ, Hồng Ân Chữa Lành cũng được Chúa Thánh Thần đem đến cho những người cầu nguyện. Sự nhận lãnh Bánh và Rượu Thánh là sự nhận lãnh liên tục ơn Cứu Độ của Chúa Giêsu, và sự hòa mình với Chúa Giêsu.  

       Thêm vào, người Công Giáo đã biết rằng sự cứu độ đã diễn ra và đang diễn tiến trong cuộc sống hiện tại của chúng ta.  Do đó người Kitô hữu phải luôn canh tân đời sống riêng của mình, và phải góp phần vào sự canh tân đời sống của xã hội.  Có vậy cuộc sống của cá nhân và của xã hội càng ngày càng thánh thiện hơn, tốt đẹp hơn, đầy đủ hơn.  Sự dấn thân vào các hoạt động xã hội qua các công tác bác ái, từ thiện, giúp đỡ cho người nghèo đói bệnh tật là những điều cần làm mà người Công Giáo phải dấn thân để thể hiện cụ thể  lý thuyết “mến Chúa yêu người”.   Ngoài ra còn phải tham gia vào các hoạt động khác của xã hội như kinh tế, chính trị, giáo dục v.v… để giúp cho xã hội tiến triển tốt đẹp hơn.
       
          Hơn nữa, trong việc phụng vụ Chúa Giêsu Kitô trong mục tiêu cứu độ (không những cứu độ riêng cho các Kitô hữu, mà còn cứu độ cả nhân loại) người Kitô hữu vì là những người đã nhận lãnh Hồng Ân cứu độ, phải dấn thân vào việc rao giảng lời Chúa, rao giảng Phúc Âm, phát triển Hội Thánh để đem càng nhiều người vào sự lãnh nhận Hồng Ân cứu độ, thì càng làm đẹp lòng Chúa nhiều hơn.  Đối với những người chưa vào Hội Thánh, các Kitô hữu cũng có bổn phận giúp đỡ họ nếu họ cần. Các Kitô hữu cùng với mọi người không phân biệt tôn giáo, tranh đấu cho tự do, cho công bằng và cho cuộc sống được sung túc và thánh thiện hơn.  Đó là sự tự cứu độ qua sự giúp đỡ của Chúa Giêsu Kitô.

Kinh Tin Kính:
         Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.  
         Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh ra bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.  Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.  Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế.  Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người.  Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng tôi, chịu khổ hình và mai tang thời Phong-xi-ô Phi-la-tô.  Ngày thứ ba người sống lại như lời Thánh Kinh.  Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.  Và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng.  
         Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, và là Đấng ban sự sống.  Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra.  Người cũng được phượng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.  Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.
         Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền.  Tôi tuyên xưng có một phép Rửa để tha tội.  Tôi trông đợi kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau. Amen.

Tóm tắt và lời kết về Giải Thoát và Cứu Độ
    
         Theo Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên tìm ra phương cách giải thoát khổ đau qua những năm dài suy ngẫm về nguyên nhân của khổ đau.  
         Ngài rao giảng lại cho chúng sanh những gì Ngài đã cảm nghiệm qua sự Giác Ngộ.  Ngài giảng cho chúng sanh với tư cách của một vị Tôn Sư.  Ngài không hề nói đến Đấng Tối Cao, hay Thượng Đế.  Theo Ngài, mỗi con người trong chúng sanh có thể giải thoát mình ra khỏi bể khổ trầm luân.  Người nào cũng có thể dùng Bát Chánh Đạo trong thuyết Trung Đạo của Ngài để tu tập, để tinh tiến, để đi tới mục tiêu cuối cùng là sự Giác Ngộ tức sự thông suốt trí tuệ và nhìn thấy Hạnh Phúc Trường Cửu.
          Ngài không thể cứu độ con người, nhưng Ngài giảng dạy cho con người tự cứu độ.  Mức độ được cứu độ, hay mức độ thoát khỏi sự khổ đau tùy thuộc vào sự cố công tu tập của mỗi cá nhân.

          Theo Công Giáo, Đức Giêsu Kitô là con của Chúa Cha, đấng toàn năng đã tạo lập nên vũ trụ và loài người.  Chỉ có Ngài mới cứu độ được con người ra khỏi tội lỗi và khổ đau.  
           Nhưng mực độ cứu độ cũng tùy thuộc vào con người vì con người có tự do trong việc chấp nhận hay từ chối Hồng Ân cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.  Muốn được cứu độ để sau khi chết, trở về Nước Chúa và sống đời sống hạnh phúc vĩnh cửu, con người phải hợp tác với Chúa Giêsu Kitô.  Con người phải đón nhận tình thương của Chúa Cha qua Chúa Giêsu Kitô, một con người đã chịu chết trên Thánh Giá để tỏ sự tùng phục Thánh Ý Chúa Cha trong việc cứu độ nhân loại.  Với sự giúp đỡ của Chúa Giêsu Kitô và sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần, con người phải từ bỏ tội lỗi, sống thánh thiện, thương người, làm những việc cụ thể để cho xã hội thăng tiến.  Làm những việc đó là con người đã hợp tác với Chúa Giêsu và con người sẽ được cứu độ khi ngày chung thẩm đến với thế gian.

           Một lần nữa, trong khuynh hướng chung của việc tìm hiểu thêm về các tôn giáo để có thể sống hòa hợp trong một xã hội đa chủng và đa tôn giáo ở Hoa Kỳ, tôi mạo muội viết lên những sự hiểu biết thật đơn sơ và rất nông cạn của tôi về “giải thoát và cứu độ” trong Phật Giáo và Công Giáo.  Tôi nói nông cạn vì tôi chỉ đọc có một vài quyển sách ghi bên dưới về hai tôn giáo trên.  Một lần nữa, xin các tác giả, xin những vị thông hiểu sâu xa hơn về hai tôn giáo trên tha thứ và chỉ bảo cho các lỗi lầm hay những diễn dịch không đúng như tác giả đã viết hoặc không đúng theo giáo lý của tôn giáo.
          Tôi đang học hỏi, vì đang ở trên đường muốn tìm hiểu về giải thoát/cứu độ và muốn được giải thoát/ cứu độ.  Xin chúc tất cả quí vị được bình an.
           
          Chú thích: Nếu quí vị nào muốn tìm hiểu thêm về Phật, Lão và Khổng, và Thiên Chúa Giáo, tôi nghĩ rằng quyển “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo” của Đường Thi Giuse Trương Đức Kỷ, (Linh Mục Cao Phương Kỷ)  là một quyển sách nên đọc.  Đây là một tài liệu nghiên cứu công phu, với lối hành văn rất sáng sủa. Tuy rằng tác giả đã dùng những từ chuyên môn của triết học và tôn giáo, nhưng lại tương đối giản dị và dễ hiểu, nhờ những định nghĩa và phần tóm tắt cho mỗi đoạn.  Chẳng những sách nầy cần cho những người Công Giáo, nó còn cần cho những ai, dù không phải là Kitô hữu, nhưng muốn đọc thêm về các tôn giáo lớn có ảnh hưởng đến văn hóa VN.  
           
Tài Liệu  Tham Khảo

1.  Đường Thi. (2000). Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo .
      Joseph Trương Kỷ xb, (?) USA.                                   
2.  Nguyễn Duy Cần. (1970).  Phật học tinh hoa. Nxb?       Việt Nam.
3.  Phạm Kim Khánh. (Pl 2525).  Tứ Diệu Đế.  (Chuyển ngữ của quyển The Eight Noble Truths. (Tác giả: V.F. Gunaratne)  Chùa Pháp Vân ấn tống, Pomona, California.  
4.  Wash, Vincent. (2000?) Keep the flame alive.  Bản Dịch của Nhóm Canh Tân Đặc sũng Maria: Giữ mãi Ngọn lửa cháy bùng. Santa Ana, California.    
5. Thiện Nhật Huỳnh Hữu Hồng (2002).  Tìm hiểu Tâm Kinh Bát nhã Ba la mật. Tác giả XB. Montral, P.Q. HIM-1V8 Canada.



[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates