Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

Nhớ Bến Tre Qua Ca Dao 

và Vài Vần Thơ Của Những Tác Giả Đồng Nai – Cửu Long

GS Nguyễn Hữu Phước

Nhớ Bến Tre nên tôi lục sách báo, nhất là các đặc san Tiền Giang – Hậu Giang, Bến Tre v.v. đọc lại. Tôi cũng hỏi thăm bạn bè già để tìm những câu ca dao, những bài thơ v.v. Tôi chỉ làm cái việc gom góp lại, trình làng, mong các bạn có vài phút thoải mái với quê hương tôi.

Tỉnh Bến Tre: Đại Cương

Tỉnh Bến Tre còn có tên Đồ Chiểu, và Kiến Hòa, tùy lúc, tùy thời. Tỉnh lỵ mang danh là “Quận Châu Thành Bến Tre”, và có khi mang tên là Trúc Giang (tên Hán Việt của chữ Bến Tre). Theo ông Lê Phát Minh (2), ghi lại theo sách của ông Nguyễn Duy Oanh, thì:

“Bến Tre trước kia chỉ là một Sóc của người Kampuchia với tên Sóc-Tre (Srock Tréy hay Trây) thuộc Thủy Chân Lạp.”

Ông Vương Hồng Sển (8) cũng nói Bến Tre có nguồn từ chữ Srock Tréy.
Nhưng cho tới giờ nầy tôi vẫn chưa biết tại sao Sóc Tre lại thành Bến Tre.

Địa giới tỉnh Bến Tre gồm nhiều cù lao, nằm giữa những nhánh của Tiền Giang. Nhưng hai cù lao lớn nhất được coi là lãnh thổ chánh thức của tỉnh Bến Tre từ năm 1900-1945 là Cù Lao Minh và Cù Lao Bảo.

Do đó có câu thơ “chơi chữ” sau đây:

Bến Tre hai chữ cù lao,
Chữ nào tình mẹ, chữ nào nghĩa cha.
(Phú Điền (7), trích thơ Mạc Thúy Hồng).

Tất cả tên của các tổng (đơn vị hành chánh nhỏ hơn quận, gồm nhiều làng) ở Cù Lao Minh đều bắt đầu bằng chữ Minh như tổng Minh Đạt, tổng Minh Quới v.v.; và tên của các tổng ở Cù Lao Bảo bằng chữ Bảo như tổng Bảo An, tổng Bảo Đức v.v.

Bến Tre còn có vô số những “rạch” (sông nhỏ) nối liền với “sông cái” Tiền Giang (nhỏ là so với sông Tiền, chớ thật ra có nhiều rạch rất rộng, có khi đến nửa kí lô mét). Do đó có rất nhiều những sông nhỏ bắt đầu bằng chữ “Rạch” như: Rạch Ba Tri, Rạch Cái Cấm, Rạch Cái Quao, Rạch Cầu Móng, Rạch Chợ Lách, Rạch Giồng Trôm, Rạch Mỏ Cày, Rạch Cá Lóc, Rạch Cá Trê v. v. Tên đi sau chữ rạch, còn là “địa danh” của một quận, hay một vùng mà con rạch chảy ngang qua, hoặc có ngư sản đặc biệt.

Ngoài vài con rạch bên trên bắt đầu bằng chữ “cái”, theo tác giả Vương Kim Hùng (9), ở Bến Tre còn có các địa danh sau đây bắt đầu bằng chữ “cái”:

Thuộc huyện Chợ Lách (ngày xưa là quận Đôn Nhơn) Cái Mơn và Cái Nhum. Đây là hai địa danh nổi tiếng nhờ có nhiều vườn trái cây ngon, nhứt là sầu riêng. Cái Mơn còn là quê của học giả Petrus Trương Vĩnh Ký và là một vùng theo Công giáo lâu đời. “Cái Nhum là quê hương của Thánh Tử Đạo (Á Thánh Lựu) và là nơi chôn thi hài của Á Thánh Plillipe Phan Văn Minh”, (ông bị xử trảm tại Cái Sơn Bé theo lệnh của Tự Đức; Cái sơn Bé, thuộc Vĩnh Long).

Ngoài ra, thuộc quận Mỏ Cày có vùng Cái Bè, và con rạch cùng tên, và rạch Cái Gấm nối với sông Hàm Luông.

Thuộc tỉnh lỵ Trúc Giang, ngang viện bảo tàng Bến Tre (dinh Tỉnh Trưởng cũ), phía bên kia sông là vùng Cái Cối; ngoài ra còn có một xã tên là Cái Nứa; và ngay trung tâm tỉnh lỵ còn có cầu Cái Cối và cầu Cái Đá.

Thuộc huyện (quận) Dòng Trôm, (tổng Bảo Phước, làng Hiệp Hưng), có vùng Cái Da Trại (cạnh rạch Cái Da), và Cái Cối (hai nơi nầy ngày xưa Nguyễn Ánh có đi qua, theo tác giả VKH).

Thuộc Ba Tri có vùng Cái Bông, sinh quán của ông Phan Thanh Giản.

Bến Tre: Ca Dao, Và Câu Hát
Liên Quan Đến Thổ Sản, Chim cá.

Sông rạch ở Bến Tre ngày xưa có rất nhiều cá lòng tong và cá bóng cát.

Con cá lòng tong ăn mống*,
Con cá bóng cát ăn rong
Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng
Về đây Cầu Móng đem lòng thương em.
(*ăn bọt nước có rong, hoặc có dính loại thực phẩm khác mà cá thích).

Hoặc:

Bìm bịp kêu, nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chóng mỏi mê.

Hoặc:

Ba phen quạ nói với diều,
Ngã ba Bến Rớ* Có nhiều cá tôm.
(Câu nầy còn được ghi như sau:
Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.)

* Bến Rớ thuộc tỉnh Bến Tre, Cù lao Ông Chưởng thuộc Long Xuyên. Hai nơi đó đều có tiếng là nhiều tôm cá. Dân gian thay đổi một vài chữ trong ca dao cho hợp với tình cảnh địa phương là chuyện thường có.

Bến Tre nổi tiếng về các vườn dừa. Có nhiều câu hò ghi lại tình cảm nam – nữ và các địa danh:

Hò ơi ! Bến Tre dừa xanh bát ngát,
Đường đi Ba Vát gió mát tận xương
Em về Chợ Giữa, Giồng Trôm,
Đừng quên Chợ Lách, Cái Mơn đợi chờ.(Hồ Liễu).

Hoặc là:

Đầu làng có một cây da
Cuối làng cây thị ngã ba cây dừa
Dù anh đi sớm về trưa
Xin anh nghỉ bóng cây dừa nhà em.

Bến Tre: Đặc Sản nổi danh như kẹo dừa, bánh phòng mì và bánh tráng giòn:

Em tráng bánh tráng, anh quết bánh phòng,
Cảm thông đôi má ửng hồng.
Hẹn em chợ Mỹ Lòng ăn cháo về đêm. (H L)


(Một bạn già, dân Bến Tre, có nhắc câu chuyện là dưới thời Pháp thuộc khoảng thập niên 1945-55, Bến Tre có tổ chức “kẹt mết” (Pháp: kermesse = hội chợ ở địa phương), ba giải nhất về sản phẩm mà anh bạn già còn nhớ là: Bánh tráng Mỹ Lồng, Bánh phòng Sơn Đốc, Bánh dừa Giồng Luông.)

Bánh tráng Mỹ Lồng,
Bánh phồng Sơn Đốc,
Măng cụt Hàm Luông,
Vỏ ngoài nâu trong trắng như bông gòn,
Anh đây nói thiệt, sao em còn so đo?

Ngoài ra còn có vài câu khác:

Ai về Chợ Giữa, Xóm Dưa, 
Ruộng nương giúp mẹ, nắng mưa chẳng màng.
Ai về Thạnh Phú, Tân Hương,
Để mong để nhớ, để thương trong lòng.

Hay là:

Sông Bến Tre có nhiều hang cá ngác
Đường lên Ba Vát gió mát tận xương
Anh có thương em thì nối sợi chỉ hường
Chớ bán rao cho lắm, hãy chừa đường . . .em đi. (Yên Châu )


(Xin ghi chú thêm là trong chữ Srok Tréy = Bến Tre, nói bên trên, theo tiếng Khmer (Cam Bốt), “Tréy” có nghĩa là cá (tréy tuksat = cá nước ngọt hay cá sông, và tréy sramot = cá biển v.v.) Vậy theo suy luận thông thường, Bến Tre phải có nhiều cá. Có nhiều cá, nên dân sống bằng nghề chài lưới, và phải có “bến” cho ghe thuyền đậu. Phải chăng Sóc Tréy thành Bến Tréy rồi thành Bến Tre. Xin bà con chỉ giáo giùm.)

Dân Bến Tre thích món cá trê (préy on-đang), hay “tép bạc”* nấu canh bầu, hoặc cá trê nướng chấm nước mắm gừng (gừng giã nhỏ và dầm với nước mắm Phú Quốc nguyên chất, không pha chế) và món canh cải nấu gừng:

Canh bầu nấu với cá trê,
Chồng ăn một miếng chồng mê tới già
(Mắm gừng chấm với cá trê,
Chồng ăn một miếng chồng mê suốt đời.)

Có bạn già khác cho câu sau đây:

Canh bầu nấu với cá trê
Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

Tép bạc (Đầu tôm) mà nấu với bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

Canh cải mà nấu với gừng
Chẳng ăn thì chớ xin đừng chê bai.

Hoặc là:

Bồng bồng** mà nấu với tôm
Chồng chang vợ húp tối ôm sáng bồng.

Hay là:

Chợ Ba Tri thiếu gì cá biển
Anh thương nàng anh nguyện về đây.

(* Dân chài lưới trong các sông rạch phân biệt “tôm” (loại có cặp “càng” to, màu xanh, thân mình thường tròn và dài, mà hiện tại chúng ta dùng làm món “tôm kho tàu”) và “tép” là loại không có hai càng to. Tép màu trắng gọi là “tép bạc” có thân hình nhỏ và dẹp. Hiện nay vì lý do thương mại, người ta gọi chung hai loại đó là “tôm”, và ngoài hộp thường ghi “cỡ” (size) bằng con số như 30-40; con số nầy có nghĩa có khoảng 30 đến 40 con tôm trong mỗi pound, số càng lớn có nghĩa là tôm càng nhỏ vì cần nhiều con mới nặng đủ một pound. **Bồng bồng là tên một loại rau.)

Những câu hát, câu thơ, hoặc ca dao về vẻ đẹp của cô gái Bến Tre:

Con gái Bến Tre tóc mây da trắng,
Mắt nhung đen má phấn môi son,
Dáng đi yểu điệu ru hồn,
Em đi khuất dạng mà anh còn trồng cây si.(H L)

Gái bến Tre còn nổi tiếng là “bảnh bao” (theo học giả Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, “bảnh bao”: đẹp dẽ, gọn gàn, vẻ người phong lưu ”)

Trai nào gan cho bằng trai Cao lãnh
Gái nào bảnh cho bằng gái Bến Tre.

(Có bạn già ghi là: Gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân (thuộc tỉnh Sa Đéc). Theo lời truyền miệng thì ngày xưa, có một thời gian chúa Nguyễn Ánh đã cư trú ở vùng Nha Mân để tránh sự lùng bắt của Tây Sơn. Sau đó, khi bị quân binh Tây Sơn rượt đuổi bất ngờ, Chúa chỉ kịp đem quân hộ vệ chạy thoát thân và bỏ lại nhiều hầu thiếp xinh đẹp. Họ ở lại vùng Nha Mân nầy, về sau lập gia đình và sanh nhiều con gái, cũng đẹp, bảnh bao, giống các bà mẹ.)]

Trai Bến Tre phải biết lặn lội đường xa, phải biết “nói chiện cho hay” mới mong theo đuổi được mục tiêu, cô gái vừa đẹp vừa nhu mì:

Giồng Trôm có gái nhu mì
Qua thương nhớ Bậu, sá gì đường xa

Và đôi khi cũng phải biết “xạo” (nói dóc cho vui, không có hại đến ai) chút chút cho nàng cười”:

Thương em anh trèo lên ngọn ớt,
Ớt gảy, anh rớt xống ngọn hànhHành đâm anh lủng ruột, sao em đành làm ngơ.

Một vài câu ca dao khác ở vùng Bến Tre

Thêm vào những câu ca dao bên trên, chúng tôi còn đọc thấy vài câu ca dao liên quan đến Bến Tre do Gs Phan Tấn Tài ghi trong bài “Ca Dao Miền Nam” Đặc San ĐN-CL sồ 2, trích từ tác giả Hà Phương Hoài, trong quyển Từ Điển Ca Dao), xin chép lại cho “trọn bộ” về Bến Tre:

Bến Tre biển cá sông tôm,
Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng

Bến Tre gái đẹp thật thà,
Nói năng nhỏ nhẹ mặn mà có duyên.

Bến Tre giàu mía Mỏ Cày,
Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.

Bến Tre nhiều gái chưa chồng,
Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà coi.

Bến Tre nước ngọt lắm dừa,
Ruộng vườn mầu mỡ, biển thừa cá tôm.

Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn,
Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày.

Mắm bày ven bãi Giồng Khoai,
Bà Hiền, Tân Thủy hằng hà cá tôm.

Đồng Bến Tre nhiều bưng, nhiều lác
Đường về Ba Vát nặng trĩu sầu riêng
Anh ra đi đã bốn năm liền
Sao không trở lại kết bạn hiền với em. *

Kẹo Mỏ Cày năm đồng một ký,
Đường Giồng Trôm một ký năm đồng.
Em đi buôn mong kiếm tấm chồng,
Để đêm năm canh, con gà gáy sáng,
Chốn cô phòng đỡ lẻ loi.

Thành thật mong các bạn vừa có vài phút thoải mái qua những câu hát, câu hò, câu thơ bên trên của miền ĐN-CL. Xin chúc các bạn và gia đìng luôn được bình an khỏe mạnh.

Tài liệu tham khảo

A. Tài liệu “sống” (truyền khẩu) do các “bạn già” sau đây, (và còn có nhiều bạn khôngmuốn nêu danh tánh): Ô.: Đỗ Hải Minh, MTT, H P, NHH, NTĐức, Nguyễn Trọng Thiệt, NVB, Nguyễn văn Châu, Trần Gia Phụng, Võ Thành Tài. Bà:Nguyễn Thi Bạch, Lê Văn Tây, Bà Bảy Mỏ Cày, Cô Ba Bạc Liêu.

Sách và Đặc San

1. Hồ Liễu, (2000). “Thương quá quê tôi”, Đặc San Bến Tre .Hội Ái Hữu Bến Tre xb, CA, USA.
2. Lê Phát Minh ,(1996). “Tỉnh Bến Tre và Ông già Ba Tri”, Đặc San Tiền Giang. Liên Hội Ái Hữu Mỹ Tho, Bến Tre và Gò Công xb, CA, USA.
3. Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (1970). Việt Nam Tự Điển. Khai Trí xb., Saigon, VN.
4. Nam San, (2002). “Hạt ngọc”, Đặc San Tiền Giang – Hậu Giang, CA, USA.
5. Nguyễn Trúc Phương (1970). Văn học bình dân. Khai Trí xb. Saigon, ViệtNam.
Nguyễn Văn Hải, (2003). “Địa danh”, Đặc San Tiền Giang – Hậu Giang, CA, USA.
6. Phan Tấn Tài (2005). “Ca Dao Miền Nam” Đặc San Đồng Nai-Cửu Long số 2. Nxb:Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Westminster California, USA.
7. Phú Điền, (2000) . “Bến Tre: Đất lành chim đậu”, Đặc San Bến Tre. Hội Ái Hữu Bến Tre xb, CA, USA.
8. Vương Hồng Xển (1993). Tự vị tiếng Việt miền Nam. Nxb Văn Hóa, Hồ Chi Minh, Việt Nam.
9. Vương Kim Hùng (2007). “Việt Nam qua những địa danh mang tên Cái”, Tập San Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai – Cửu Long, tháng 3, 2007, Uc Châu
10. Yên Châu, 2000. “Điệu hò câu hát quê hương”, Đặc San Bến Tre . Hội Ái Hữu Bến Tre xb, CA, USA.


[Trở lại trang trước]

 

 

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates