Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

TIN MỚI NHẤT
 
 
 

 
 
 Tin Buồn               Tin Vui

NGỌ, NGỰA, và MÃ

GS Nguyễn Hữu Phước

PHẦN I

Sách về ngựa ở Hoa Kỳ quá nhiều, trong lúc sách về ngựa Việt Nam lại không có, mặc dầu thư viện có khá nhiều sách tiếng Việt. Do đó những điều viết về ngựa liên quan đến Việt Nam đều từ trí nhớ mà ra, trừ những chỗ có trích dẫn.
Nhưng có trí nhớ tức là đã học, đã nghe, hay đã đọc từ những năm hay từ những thập niên về trước. Rất tiếc là không nhớ nổi đã đọc ở đâu và do ai viết. Vậy xin thành thật cám ơn và cũng xin lỗi các tác giả mà tôi đã đọc qua nhưng vì quá lâu rồi nên không còn nhớ tên được nữa. Đoạn nào nhớ được tôi sẽ ghi chú mặc dầu không chắc nhớ đúng.

Ngọ và ngựa

Thập can và thập nhị chi

Năm 2002 là năm Nhâm Ngọ. Theo cách tính của Đông phương, năm được đặt tên theo mười can, (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỹ, canh, tân, nhâm, quí) và mười hai chi (tý, sữu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Để cho dể nhớ, ai đó đã làm ra bai thơ sau đây:

Bính tý con chuột cống lang
Hay tha trứng vịt xuống hang bỏ rày.
Đinh sửu con trâu kéo cày
Ngoài đồng hai buổi ăn rày cỏ khô.
Mậu dần con cọp ngoài rừng
Tiếng kêu vang lừng hay chụp bắt heo.
Kỷ mẹo là con mèo ngao
Hay kêu hay gào hay khóc hay than.
Canh thìn là con rồng vàng
Những khi cần nước Ngọc Hoàng sai đi.
Tân tỵ con rắn ròng ri
Ở dưới mương lạng mấy khi lên bờ.
Nhâm ngọ con ngựa chạy mờ
Nó đi một buổi mười giờ không sai.
Quí mùi con dê râu dài
Cái đuôi ngúc ngoắt, cái đầu có chong.
Giáp thân con khỉ rừng vong
Cái đít chai ngắt, đầu không có sừng.
Ất dậu là con gà rừng
Có mỏ có mồng hay gáy ó o
Bính tuất là con chó cò
Hay nằm cạnh lò lổ mũi lọ lem.
Đinh hợi con heo ăn hèm
Mấy khi cúng tế chả nem đủ dùng.

Cứ tiếp tục theo thứ tự của mười can từ giáp cho tới quí thì mỗi mười năm có một năm bắt đầu bằng chữ “nhâm”. Và theo thứ tự của mười hai chi thì mỗi mười hai năm mới có một năm ngọ. Mẫu số chung của 10 và 12 là 60. Vậy phải sáu mươi năm sau (2062) mới có một năm “nhâm ngọ” nữa. Hoặc đi ngược lại sáu mươi năm trước là năm nhâm ngọ (1942).

Theo Dương Tử (2), bài thơ về 12 con giáp được truyền tụng như sau:

Bính tý là con chuột nhà,
Gặm lúa gặm thóc đem thồn xuống hang
Đinh sửu con trâu kềnh càng
Cày chưa tới buổi đã mang cày về.
Mậu dần ông cọp kiếm dê
Bắt thịt đem về trên núi non cao.
Kỷ mẹo con mèo hay ngao
Hay cấu hay quào ăn vụng như tinh.
Canh thìn con rồng sơn đình
Mình không mình giữ ẩn mình trên mây.
Tân tị con rắn bộng cây
Nằm khoanh trong bộng chẳng hay sự gì.
Nhâm ngọ con ngựa kéo xe
Cong lưng mà chạy quản gì đường xa
Quí mùi là con dê già
Ăn nhằm sua đũa chết cha dê xòm.
Giáp thân con khỉ ở lùm
Chuyền qua chuyền lại té ùm xuống sông.
Ất dậu con gà vàng lông
Đầu đỏ mỏ vàng tiếng gáy ó o
Bính tuất là con chó cò
Nằm khoanh trong lò lỗ mũi lọ lem.
Đinh hợi con heo ăn hèm
Làm chuồng nhốt lại không thèm thả ra.

**Chú Thích: Hai bài thơ về “thập can” và “thập nhị chi” bên trên đã được viết vào năm 2002, năm “nhâm ngọ” và là một bài trong quyển Tiếng Việt Đa Dạng, xuất bản vào năm 2004, do đó không không dúng với chi và can của năm 2014 là năm giáp ngọ. Chúng tôi có hiệu đính vài dòng bên dưới

Năm 2013 dương lịch là năm Quý Tỵ âm lịch. Sang Năm 2014, sẽ là Năm Giáp Ngọ, và năm 2015 sẽ là năm Ất Mùi. Theo cách tính của Đông phương, năm được đặt tên theo một trong mười can, còn gọi là thập can: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỹ, canh, tân, nhâm, quí; và một trong mười hai chi, còn gọi là thập nhi chi hay là 12 con giáp: tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.

Cứ tiếp tục theo thứ tự của mười can từ giáp cho tới quí thì mỗi mười năm có một năm bắt đầu bằng chữ “giáp”. Và theo thứ tự của mười hai chi thì mỗi mười hai năm mới có một năm “ngọ”. Mẫu số chung của 10 và 12 là 60. Vậy phải sáu mươi năm sau (2076) mới có một năm “giáp ngọ” nữa. Nếu tính ngược lại thì năm 1954 cũng là năm “giáp ngọ”.

Ngọ và ngựa

Có năm Ngọ vậy có tháng Ngọ không? Có. Tháng “năm” âm lịch còn gọi là tháng Ngọ: “ăn Tết đoan ngọ trở về tháng năm” (ca dao). Còn ngày Ngọ thì sao? Dĩ nhiên cũng có ngày Ngọ và cũng có chu kỳ là 60 ngày. Mỗi ngày có giờ Ngọ là khoảng thời gian dài 2 giờ vào buổi trưa: từ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa. Đúng ngọ hay ngọ-trung là đúng vào lúc mặt trời nằm ở điểm cao nhất trên nền trời. Cúng ngọ tức cúng vào buổi trưa. Ca dao có câu:

Vái trời cưới được cô Năm,
Làm chay bảy ngọ mười lăm ông thầy (3).

Đối ngược lại với giờ ngọ là giờ tí từ 11 giờ khuya đến một giờ khuya. Ca dao đùa về chữ cùng nghĩa:

Nửa đêm, giờ tí, canh ba,
Vợ tôi, phụ nữ, đàn-bà, nữ-nhi.

Năm Ngọ là năm ngựa. Tháng ngọ, giờ ngọ, và ngọ môn tức cửa chánh vào thành nhà vua (ngó về hướng nam) thì không dính gì đến ngựa cả.

Trong tiếng Việt còn có một từ khác gốc Hán dùng để chỉ ngựa: “mã”. Chuyện ngựa nói trước, chuyện mã nói sau.

Từ ngàn xưa, người ta đã biết đem ngựa hoang về huấn luyện để giúp sức cho người trong các việc nặng nhọc, nhất là trong việc chuyên chở. Ngựa là một trong sáu con vật được gọi là gia súc. Sáu con vật đó là: bò, ngựa, lợn, dê, gà, chó. Ở Việt Nam, năm trong sáu con vật trên đều bị người làm thịt để ăn, tùy lúc, tùy nơi; chỉ riêng có ngựa, tôi chưa hề nghe ai làm thực phẩm.
Ở miền đông Hoa Kỳ nghe nói có bán thịt ngựa. Dân Pháp cũng ưa ăn thịt ngựa, và có những tiệm chuyên bán thịt ngựa: (boucherie chevaline).

Cho tới thập niên 40-50 ở Việt Nam vẫn còn dùng “xe ngựa”. Chỗ ngồi của hành khách rất cao ở phía sau. Loại xe ngựa nầy có mui giống như mui xe “xích lô đạp” nhưng chiều ngang lớn hơn nhiều. Hiện thời kiểu xe ngựa nầy, trang hoàng đẹp mắt, dùng trong việc chở khách du lịch ở một số thành phố ở Hoa Kỳ.

Trong thập niên 50, tôi còn nhớ, Việt Nam có chế thêm một loại “thùng xe” khác cho ngựa kéo gọi là xe “thổ mộ”. Thùng xe nầy vuông dài, bên trên có mui cong bằng gỗ. Xe nầy còn có tên là xe hộp quẹt vì hình dáng của thùng xe. Nhưng tên “xe thổ mộ” thông dụng hơn. Đây là loại xe chuyên chở hành khách rất thông dụng khắp nơi ở Việt Nam thời đó cho đến khi bị “xe hơi”, hoặc xe Lambretta thay thế. Bác “tài” điều khiển xe thổ mộ có tên đăc biệt: “anh xà ích”. Theo ông Bình Nguyên Lộc (trong quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam) thì chữ xà ích là tiếng Phi Luật Tân được Việt hóa.

Ngựa trong thần thoại hoặc trong lịch sử

Thánh Gióng

Ở Việt Nam, theo truyền thuyết, ngày xưa đời Hùng Vương thứ sáu có giặc Ân đánh phá nước Việt. Vua cho đi tìm người giỏi để dẹp giặc. Ở một làng nọ, có một em bé xin đi tòng quân. Em bé xin vua đúc cho em một thanh kiếm và một con ngựa bằng sắt. Vua cho làm theo lời cậu bé. Cậu bé đã dùng kiếm và ngựa sắt dẹp tan được giặc. Với công trạng ấy, cậu bé được phong là Phù Đổng Thiên Vương. Hiện thời, nếu tôi nhớ không lầm thì ở làng Bắc Sơn, còn có đền thờ ông “Thánh Gióng” tức Phù Đổng Thiên-Vương.

Long mã

Ở Trung-Hoa, theo truyền thuyết, có một con vật được gọi là “long mã” xuất hiện thời Phục Hy. Con vật nầy có mình rồng đầu ngựa. Theo trí nhớ (không chắc chắn) của tôi thì nó là nguồn gốc của kinh dịch, một quyển sách nổi tiếng của Trung Hoa. Liên hệ giữa con long mã và kinh dịch như thế nào thì tôi đành chịu.

Trong sử Tàu còn có nhiều con ngựa rất nổi danh. Một trong những con đó là con Xích Thố của “Ông” tức Quan Vân Trường. Con xích thố nầy chỉ nổi danh khi nó đã thuộc về tay “Ông” mà thôi. Khi nó còn ở với hai chủ trước của nó là Lữ Bố và Tào Tháo thì nó không có nổi danh gì cho lắm.

Ở Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã chiếm nước Trung Hoa, và sau đó đánh về miền tây, thiết lập một giang sơn từ Á sang Âu là nhờ đoàn kỵ mã với những con ngựa chạy xa không mệt và những chiến sĩ tài ba. Nhưng điều cần nhắc lại là đoàn quân ấy đã bị thảm bại ở Việt Nam.

Con ngựa thành Troy

Ở miền Tiểu Á theo thần thoại, có con ngựa nổi danh: “Con ngựa Thành Troy”. Theo Dương Tử (2) câu chuyện truyền rằng người Hy Lạp khi muốn tấn công thành Troy, đoàn quân Hy Lạp đã dùng một con ngựa cây khổng lồ và cho quân lính núp bên trong nhờ phần rỗng trong mình ngựa. Ngựa cây được đẩy tới cạnh cửa thành. Xong quân lính đẩy ngựa cây và đoàn quân đi theo giả thua bỏ chạy. Binh sĩ trong thành mắc kế, mở cửa thành để đánh đuổi và chiếm lấy ngựa cây đẩy vào thành. Họ làm tiệc ăn mừng chiến thắng. Quân lính Hy Lạp trong mình ngựa cây ào ra bất ngờ, mở cửa thành cho quân lính của họ tràn vào và nhờ đó chiếm được thành Troy. Tướng giữ thành là Hector bị tử thương. Từ đó con ngựa thành Troy đã nổi danh.

Cũng theo Dương Tử, kịch gia ngưòi Pháp tên Racine vào thế kỷ XVII đã dùng truyền thuyết “Ngựa Thành Troy” để viết vở kịch nổi danh mang tên “Andromaque”.

Xin trích nguyên văn lời Dương Tử như sau:

“Câu chuyện xoay quanh ba nhân vật chính là Pyrrhus, tướng chỉ huy Hy lạp; Andromaque vợ Hector, và Astyanax, con Hector. Khi thành Troy thất thủ (tiếng Pháp viết là Troie), Andromaque và con là Astyanax bị bắt làm tù binh. Pyrrhus say mê sắc đẹp của Andromaque và đây chính là đầu mối của câu chuyện: Khi Andromaque, vì thờ chồng, cự tuyệt Pyrrhus, thì hắn ra lệnh giết Astyanax, lúc Andromaque vì quá thương con, muốn cứu con, phải giả vờ ưng thuận, thì Astyanax được tha chết. Cứ như thế mà dằng co để rồi cuối cùng chính tên thuộc tướng của Pyrrhus đã giết hắn và tự sát, cũng chỉ vì ông mê Andromaque. Kết cuộc Andromaque được binh sĩ tôn lên ngôi nữ hoàng”.

Đầu người mình ngựa

Ở Hy Lạp, theo thần thoại, ngựa đã từ dưới nước nổi lên vì ngựa do thần nước tạo nên. Có lẽ thần thoại nầy bắt nguồn từ sự xuất hiện của những quân lính đến chinh phục Hy Lạp. Họ đã đi đến bằng tàu và đã cỡi ngựa đổ bộ lên bãi biển. Ngựa lội giỏi và chở lính vào bờ. Có lẽ cũng chính hình ảnh nầy nên phát sinh ra thần thoại con vật “đầu người mình ngựa”. Con vật nầy có đầu và một phần thân thể giống người; nhưng phần thân thể chánh là thân con ngựa. Các bạn nào có xem TV tuồng The Princess Warrior đều thấy có nhóm dân nửa người nửa ngựa nầy.

Ngoài ra, thần thoại Hy Lạp còn có con ngựa nổi danh khác, đó là con ngựa có cánh tên là Pegasus(8).

Ngựa trong âm nhạc và văn thơ

Ngựa trong âm nhạc

Trong âm nhạc trước hết phải nhắc tới bài dân ca “lý ngựa ô”. Tôi chép lại lời của bản dân ca nầy để bạn nào chưa biết qua đọc cho vui: (theo Tình ca 7, nhà xuất bản Xuân Thảo.)

“Khớp con ngựa ngựa ô (2 lần) ngựa ô anh khớp; anh khớp cái kiệu vàng; Ứ ư ừ ứ ư; anh tra khớp bạc; lục lạc đồng đen; búp sen lá dặm; dây cương nhuộm thắm; cánh roi anh bịt đồng thòa; Là đưa ý a; đưa nàng, đưa nàng; anh đưa nàng về dinh (2 lần).”

“Khớp con ngựa ngựa ô (2 lần); ngựa ô anh khớp; đi khắp các nẻo xa; Ứ ư ừ ứ ư; đi qua núi mộng; trở lại đồi mơ; đi bên suối đợi; đi sang rừng nhớ; nhớ nhau trong buổi hẹn-hò; Là theo ý a theo chàng; theo chàng, thiếp theo chàng một phen (2 lần).”

“Khớp con ngựa ngựa ô (2 lần); ngựa ô anh khớp; duyên bén ta thành đôi; Ứ ư ừ ứ ư; trong sân pháo nổ; cả họ mừng vui; em mang áo đỏ; chân đi hài tía; thắt lưng dây lụa màu vàng; Cùng nhau ý a tơ hồng; tơ hồng, lễ tơ hồng cùng nhau (2 lần).”

Kế đó là bản “Vết thù trên lưng ngựa hoang”. Tôi rất thích nghe bản nầy qua giọng hát của Elvis Phương, mặc dầu thú thiệt là tôi không hiểu hết ý nghĩa của lời ca.

Bản nhạc thứ ba và là bản nhạc cuối cùng, có dính líu trực tiếp với ngựa mà tôi biết là bản nhạc “Ngựa phi đường xa”. Tôi đã nghe bản nầy không biết bao nhiêu lần, khoảng thập niên 60-70. Nghe ban Thăng Long hát bản nầy thì hay lắm, nhứt là nghe tiếng ngựa hí của ông Hoài Trung. Nhưng bây giờ nghĩ lại thấy tức cười.

Ngựa chạy nhanh, hay ngựa phi thì không khi nào hí; hoặc ngược lại. Vậy mà các ông ấy vừa cho ngựa phi vừa cho ngựa hí, vẫn nghe hay như thường và có ai thắc mắc gì đâu.

Trong bản Hòn Vọng Phu số 1, tuy đề tài không phải là ngựa, nhưng cũng có câu : “ngựa phi ngoài xa hí vang trời”. Như vậy lúc đó phải có nhiều ngựa, một số thì phi, một số không phi, hay bị gò cương lại thì cự-nự nên mới hí. Phải nhiều con đứng tại chỗ hoặc bị gò cương lại mới hí “vang trời” được. Gặp đâu viết đó cho vui thôi chứ không hề có ý chỉ-trích hay phê bình gì cả. Bản Hòn Vọng Phu số 3, cũng có nhắc đến ngựa phi, nhưng không có ngựa hí.

Ngoài các bản trên, tôi không còn biết đến bản nào khác nữa có nhắc đến ngựa. Còn rất nhiều bản nhạc khác về ngựa, nhất là con ngựa hồng, nhưng vì hiểu biết của tôi về âm nhạc rất hạn hẹp nên không biết để viết ra đây.

May mắn thay, nhạc sĩ Phạm Anh Dũng cho chúng tôi biết "ngựa hồng" được nhắc đến nhiều lần trong âm nhạc Việt Nam Ông có ghi ra cho chúng ta một số trích dẫn sau.

"Một Mình Trên Đồi Nhỏ" của Từ Công Phụng:
... Đồi xưa, ngựa hồng đã khuất bóng
Hồn chênh vênh có buồn ...

"Xin Mặt Trời Ngủ Yên", Trịnh Công Sơn:
... Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
Ngựa hồng đã mỏi vó
Chết trên đời quê hương ...

"Chỉ Có Ta Trong Một Đời", Trịnh Công Sơn:
... Đời về tôi, tên mục đồng,
Rồi về thêm con ngựa hồng ...

"Hát Trên Đồi Tăng Nhơn Phú", Vũ Đức Sao Biển:
... Ngựa hồng ơi bao năm rồi
Tàn cuộc vui, sao quanh đời
Còn vọng mãi chút hương xưa ngày thơ ấu.

"Chinh Phụ Ca", Phạm Duy:
... Rồi nhìn qua song em thấy trước sông
Ngựa hồng âu yếm bước sang
Trên lưng có chàng trai tráng
Mang theo biết bao nhiêu ngày vàng ...

"Ngựa Hồng"(Rong Ca 9), là bài hát thật dài nói về ngựa hồng củaPhạm Duy:
Ngựa Hồng xưa kia cùng bậc chinh nhân
Bách chiến nơi sa trường đời
Ngựa Hồng hôm nay cột vào yên cương
Cong lưng kéo chiếc xe thôi ...

Ngựa Hồng xưa kia oai phong tuấn mã
Đi trong vinh quang sa trường vấn thân ...

Bỗng thấy xa xăm Ngựa Rừng
Ngựa Thần không yên, Ngựa Hùng không cương
Ngựa Rừng phi qua ngọn đồi ...

Ngựa Hồng ơi! Tung xiềng để ra đi
Thênh thang khắp cõi tang thương.

Ngựa Hồng đưa chân đá vỡ yên cương ...

Ngựa Hồng không ai che đôi mắt nữa
Trông ra hai bên con đường rất xa
Ngựa Hồng vươn lên phi qua lỗ bé trôn kim
Thong dong đi vào cõi không!

Ngựa trong văn chương

Trong văn thơ Việt-Nam, truyện Kiều đứng đầu trong việc nhắc đến ngựa. Có tất cả mười một lần Nguyễn Du đã viết về ngựa. Nếu bạn nào muốn coi con số trên đúng hay sai thì cứ chịu khó đọc lại từng câu trong chuyện Kiều, câu nào có từ ngựa, hay từ gì liên quan tới ngựa thì gạch dưới và đếm cho vui.

Có điều chắc chắn là tất cả những người đàn ông có liên hệ đến đời Kiều đều cỡi ngựa, hay dùng ngựa làm phương tiện chuyên chở.

Trước hết trong đoạn thơ tả cảnh chị em Kiều đi lễ thanh minh:

Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Cũng trong cảnh đi tảo mộ nầy, lúc Kim Trọng, chàng thanh niên đầu tiên mà Kiều để ý, xuất hiện và gặp mặt Kiều lần đầu, chàng cỡi ngựa:

Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tư tình.

Trước đó một vài câu, tác giả truyện Kiều đã gián-tiếp cho biết là Kim Trọng dùng ngựa:

Dùng dằng nửa ở nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.

Nhạc vàng đây chắc chắn là nhạc ngựa. Lỏng buông tay khấu là thả lỏng dây cương; vậy phải kể hai câu nầy nói về ngựa rồi. Khi hai chị em Kiều sắp chia tay Kim Trọng, ngựa lại được nhắc đến:

Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.

Mã Giám Sinh, người đàn ông có hành động mà Nguyễn Du phải than thở là “tiếc thay một đóa trà mi, con ong đã tỏ đường đi lối về”, đã “giục giã vội vàng ra đi” bằng ngựa:

Đoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

Sở Khanh, người đàn ông thứ ba trong đời Kiều, khi bỏ Kiều ra đi, cũng dùng ngựa, để “quất ngựa truy phong”:

Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!

Rồi khi Thúc Sinh, người đàn ông thứ tư, lúc chia tay cùng Kiều vào một mùa thu để về nhà “xin phép” hoặc “thu xếp” với vợ cho Kiều về ở chung, cũng đã ra đi bằng ngựa:

Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.

Khi Thúc Sinh đã ra đi rồi, có một nhóm ác nhân “đầu trâu mặt ngựa” đến đốt nhà nơi Kiều đang cư ngụ. Trong lúc bất tỉnh vì thuốc mê, Kiều đã bị bắt cóc đem đi bằng ngựa:

Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm-bao biết gì!
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào, viện sách, bốn bề lửa dong.

Từ Hải, người đàn ông thứ năm, người đã giúp Kiều trả oán, báo ân, và đưa Kiều lên chỗ cao sang nhất của cuộc đời Kiều, cũng dùng ngựa. Đó là lẽ dĩ nhiên vì Từ Hải là một võ tướng:

Trông trời, trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng dong.

Khi cho quân lính rước Kiều về phủ đường một cách rất long trọng, Từ Hải đã tự mình cỡi ngựa ra ngoài để nghênh đón Kiều:

Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài.

Và gần đến cuối của câu chuyện gian truân đời Kiều, người em trai của Kiều và người tình đầu tiên đã được làm quan. Sau đó chàng Kim được “cải nhậm” Nam Bình, còn chàng Vương, thành Phú Dương. Cả hai đã dùng xe ngựa đi “phó quan” :

Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan.

Ngoài ra thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa” để chỉ những người không lương thiện bắt nguồn từ Kiều:

Người nách thước kẻ tay dao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

Thành ngữ “làm thân trâu ngựa” để đáp đền ơn sâu cũng ở trong Kiều mà ra:

Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.

Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là quyển Chinh Phụ Ngâm. Sau đây là một vài đoạn thơ liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:

Chí làm trai đặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giả nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu vị ào ào gió thu.

Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật là buồn:

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Trong câu trên, ngựa chỉ dùng để so sánh mà thôi. Ở các câu sau, ngựa liên quan trực tiếp đến người chinh phu ở nơi xa xăm, chịu dãi dầu sương gió, cùng những hiểm nguy của chiến trận, bên mình ngựa:

Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn
Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh

Hoặc:
Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.

Hay là:
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ
Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.

Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu cũng có một câu nói về ngựa:

Vân Tiên đầu đội kim khôi
Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.

Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:

Mùi phú quí nhử làng xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh.

Trong truyện “Lục Súc Tranh Công” (9), một số các gia súc khác có vẻ “ghen tài” với ngựa, nên đã nói xấu ngựa nhiều điều, xin chép lại đây một vài câu:

Dám thưa người báu gì giống ngựa
Mà trau tria lầu trại nhọc nhằn
Ăn cho ăn những cháo đậu xanh
Ở thì ở những tàu lợp ngói...
Gẫm giống ấy:
Nết na dớn dát, tính khí chàng ràng...
Nghề cày bừa nghe coi lếu láo...
Dại không ra dại, khôn chẳng ra khôn
Nuôi giống ấy làm chi cho rối.

Ngựa cũng chẳng vừa gì, vừa tự khen mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng tài phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử:

Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai
Ớ này này tao bảo chúng bây
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa ...
Tao đã từng đi quán về quê
Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc ...
Ngày ngày chầu chực sân rồng
Bữa bữa dựa kề loan giá.
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.
Ông Quan Công sáu ải vượt qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố ...
Các chú được ăn no nằm ngủ
Bởi vì ta cầm cán giữ gìn ...
Các chú những nằm trong xó bếp
Tài các người ở chốn quê mùa
Đừng đừng buông lời nói khật khù
Bớt bớt thói chê bai giớn giác …

Thi sĩ Bạch Cư Dị cũng có nhắc đến ngựa trong Tì Bà Hành Khúc:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti.

Thi sĩ Bùi Hữu Nghĩa có nhắc đến tài chạy đường xa của ngựa:

Đường dài ngựa phóng mây ngàn dặm
Nước cũ trăng tròn rọi núi sông.
(Hai câu trên dịch từ hai câu bằng chữ Hán Việt (HV), mà rất tiếc tôi không tài nào nhớ nổi vì vốn liếng chữ HV quá ít. Chỉ nhớ là hình như đã đọc hai câu dịch ra tiếng Việt trong một bài về ngựa của ông Thái văn Kiểm, cách đây đã lâu lắm rồi.)

Nhưng trong văn thơ, theo tôi, con ngựa nổi danh không phải là con ngựa thật ngoài đời, mà là con ngựa trong bài “Đánh cờ người” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Bà tả chuyện cặp vợ chồng, đêm khuya trằn trọc không ngủ được nên:

Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thủy không ai được biết ...
Thoạt mới đầu chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tượng lên ...

Dương Tử (2) có ghi lại bài thơ của Vũ Lang (một cựu giáo sư trung học Nguyễn Trải) gởi tặng ông trong dịp Tết Nhâm Ngọ:

Ngựa thần hý lộng đón xuân sang
Rắn tiễn năm tàn hạnh hổ mang
Vui tết đào hồng khoe sắc thắm
Đón xuân mai, cúc, trổ hoa vàng ...

Đến đây, trí nhớ và tài liệu đã cạn tất cả những gì về ngựa trong thơ văn. Tôi ngưng đánh máy, tắt computer để nghỉ xả hơi, tình cờ thấy quyển “Thơ tình chọn lọc” của Nguyễn Hoài Thương, lật ra đọc lướt qua, lại thấy có một bài thơ, tác giả Phan văn Dật (1927), tựa đề Tiễn Đưa, nói về cảnh vợ tiễn chồng đi lính, có hình ảnh ngựa:

Chàng mặc áo nhung nầy,
Thiếp vì chàng mới may,
Thiếp dù xa chân ngựa,
Tơ lòng theo chàng bay ....

Và ở một đoạn sau:
Ngày mai chàng ruổi xa,
Yên ngựa rong đường thẳng,
Thức dậy lúc canh gà.

Trong sấm Trạng Trình có nhắc đến ngựa qua từ mã:

Mã đề Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

Trong một đoạn dài vừa qua tôi đã chép lại những câu liên quan đến ngựa trong nhạc và thơ. Còn trong văn xuôi thì sao? Tôi đành thú nhận là trí nhớ của tôi rất mơ hồ. Rồi tôi tự ngạc nhiên về tôi. Chẳng lẽ trong suốt những năm trung học không có một ông thầy Việt văn nào bắt mình đọc một đoạn văn xuôi nào dính líu đến con ngựa sao? Hay trong những quyển tiểu thuyết hoặc chuyện ngắn, chuyện dài đã tự tìm đọc lại không có chuyện nào liên quan đến ngựa sao?

Cố moi óc mãi mới nhớ có một đoạn chữ “người kỵ mã trong sương chiều”, nhưng không biết nó dính tới nhạc, thơ, hay văn xuôi; và một cuốn sách có tựa là “Ngựa chứng trong sân trường” của Duyên Anh. Rắt tiếc tôi chưa đọc qua. Theo lời một người bạn, cuốn sách nầy chỉ dùng từ ngựa chứng với tính cách tượng trưng mà thôi vì sách chỉ viết về chuyện học trò. Thôi đành bỏ qua cái vụ ngựa trong văn xuôi.

(còn tiếp)

Xem tiếp Ngọ, Ngựa và Mã - phần 2

 

[Trở lại trang trước]

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates